Sunday, Dec 21st

Last update:05:40:26 AM GMT

You are here: Home

Bài suy niệm Chúa Nhật X thường niên năm C - LM. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB

Email In PDF.

CHÚA NHẬT X THƯỜNG NIÊN – NĂM C
Suy niệm Tin Mừng Lc 7,11-17


Thiên Chúa chạnh thương nỗi thống khổ
của con người

Đoạn Tin Mừng ‘Đức Giê-su cho con trai một bà góa thành Na-in sống lại’ được xếp vào một trong số ít các phép lạ Người chủ động thực hiện, không qua lời khẩn cầu đôi khi phải khẩn khoản đầy tin tưởng của chính các nạn nhân, hoặc người nhà của họ. Trong trường hợp cụ thể này, đơn giản là vì ‘Người chạnh lòng thương’ trước tình cảnh éo le của một bà mẹ góa bụa vừa mất đi người con trai duy nhất. Chỉ có thế, và người đã ra tay can thiệp. Về phía dân chúng, đứng trước phép lạ cả thể là một người đã chết đang trên đường đi chôn cất… bật ‘ngồi lên và bắt đầu nói’, họ không khỏi kinh ngạc tới độ cất cao tiếng ngợi khen Thiên Chúa: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Chúa đã viếng thăm dân Người”. Riêng với tôi, phép lạ này càng gây kinh ngạc hơn trước mối quan tâm sâu sắc mà Thiên Chúa quyền uy cao cả dành cho số phận bọt bèo của một phàm nhân tầm thường. Đối với tôi phép lạ này phản ảnh một trong các nội dung quan trọng nhất của mầu nhiệm nhập thể: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi…” (Ga 3,16) và, qua Đức Giê-su, Người quả thực rất quan tâm gần gũi với con người biết bao!

Thật ra nội dung này không quá xa lạ với Kinh Thánh nói chung. Trước cảnh nô lệ mà dân Do Thái phải chịu bên Ai-cập, Đức Chúa đã phán bảo Mô-sê: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập. Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng…” (Xh 3,7) Từ đó xuất hiện trong Ít-ra-en một thái độ tin tưởng rất ấn tượng đối với Đức Chúa: “Con lâm cảnh ngặt nghẻo, Ngài lo lắng chăm nom, chẳng trao nộp thân này vào tay thù địch, nhưng cho con rộng bước thênh thang" (Tv 30, 9) Thế nhưng hình như cũng đã rất sớm xuất hiện ngay trong Cựu Ước một khuynh hướng trái nghịch muốn đẩy Thiên Chúa ra xa tới một nơi tôn nghiệm cực thánh để coi Người như một kẻ xa lạ, đầy thịnh nộ và quyền uy phải được làm nguôi ngoai bằng các nghi thức lễ tế rườm ra. Từ đó lời cầu khẩn cũng không còn là hoàn toàn tin tưởng phó thác, một chất chứa một niềm bồn chồn lo lắng: “Tới bao giờ hồn con vẫn còn lo lắng và hồn con ủ rũ đêm ngày? Tới bao giờ kẻ thù con thắng mãi?” (Tv 12,3), thậm chí còn tỏ ra nghi ngờ lòng Đức Chúa xót thương, “Xin Chúa đừng chê bỏ chúng con, đừng rẻ rúng tòa vinh hiểu của Ngài. Dám xin Ngài nhớ lại đừng hủy bỏ giao ước giữa Ngài với chúng con” (Gr 14,21).

Thiên Chúa luôn đi bước trước vì lòng nhân ái vô biên của Người là một nét nổi bật nhất trong toàn bộ mạc khải của Đức Giê-su. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (x. Ga 3,16). Khẳng định của niềm tin Ki-tô hữu chúng ta không chỉ là: tôi tin vào một ‘Thiên Chúa yêu thương’ nhưng phải là một “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước”, và Thánh Gio-an còn thêm, chính vì vậy mà “Tình yêu không biết đến sợ hãi, trái lại tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi” (1 Ga 4,18-19). Đặc điểm lớn nhất của mạc khải Giê-su chính là Thiên Chúa chủ động trong tình yêu của Người đối với con người đến nỗi sau này phải trở thành mẫu mực cho mọi tương quan tình yêu giữa người với người: “Hãy thương yêu nhau như chính Thầy yêu thương chúng con” (Ga 13,34-35).

Thế nhưng cũng như thời Cựu Ước, thời gian dần trôi làm phát triển một khuynh hướng, đặc biệt trong phụng tự, đề cao sự vinh quang thánh thiện tột đỉnh của Thiên Chúa, nhấn mạnh sự cách biệt như trời với đất giữa Người với chúng ta… Nhiều Ki-tô hữu rơi vào suy tưởng đầy ngộ nhận là: Thiên Chúa rất ít, hoặc hiếm khi, quan tâm tới tôi. Do ảnh hưởng của các tôn giáo vây quanh mà lạc thuyết có lẽ phổ biến nhất mà nhiều Ki-tô hữu vô tình mắc phải chính là không xác tín nổi Thiên Chúa từ nhân thực sự quan tâm tới con người yếu hèn, tới hoàn cảnh sống, nhất là những trạng huống đau thương của cuộc đời mình. Họ hoàn toàn đánh mất thái độ ‘như trẻ thơ nép mình bên lòng mẹ’, thái độ của con đường thơ ấu đầy tin thác của Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, đã từng được coi như một khám phá độc đáo chỉ vào đầu thế kỷ 20. Thực tế có bao nhiêu Ki-tô hữu thực sự xác tín rằng niềm tin của mình thực sự là Tin Mừng… vì biết rằng Thiên Chúa yêu thương mình trước bất chấp những tội lỗi lầm lỡ mình phạm?

Và còn hơn thế nữa, trong việc làm ăn sinh sống hàng ngày, niềm tin Ki-tô chúng ta có gì khác hơn so với sự cầu khẩn van xin của các tín đồ tôn giáo khác? Nếu cũng chỉ là khấn vái lạy lục để được các ơn huệ này nọ thì Lời Chúa hôm nay có giá trị gì? Lúc đó chúng ta cùng lắm sẽ coi việc Đức Giê-su làm phép lạ cho con trai bà góa thành Na-in sống lại cũng chỉ là một trong nhiều dịp để Người biểu dương quyền năng tối thượng của mình mà thôi. Vậy thì phép lạ mà Tin Mừng Chúa đề cập tới hôm nay chắc hẳn phải có giá trị củng cố niềm cậy trông còn rất yếu kém của chúng ta nhiều lắm đấy!

Lạy Chúa, xin củng cố đức tin con đặc biệt trong năm đức tin này. Xin cho con không chỉ tin rằng Chúa hiện hữu, mà là hiện hữu chỉ vì yêu con; tin rằng Chúa yêu con không phải vì con xứng đáng mà chính vì con bất toàn; tin rằng Chúa hằng quan tâm chăm sóc con không phải vì con trung thành phụng sự, những là vì tự bản chất Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót. Xin cho niềm tin này có sức đổi mới cuộc đời, cất khỏi con mọi nỗi lo âu buồn nản, nâng đỡ con lúc gặp gian nan thử thách… để con có khả năng đem niềm vui của Chúa đến cho mọi người, đặc biệt các bạn trẻ sầu khổ. Amen.

LM. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB

Kỷ Niệm Đệ Nhị Bách Chu Niên Ngày Sinh của Don Bosco