Wednesday, May 23rd

Last update:03:04:02 AM GMT

You are here: Tư liệu Giáo dục truyền thông Nền văn hóa truyền thông

Nền văn hóa truyền thông

Email In PDF.

“Nền văn hóa truyền thông” là một thực tế. Đó là một thực tại mà chúng ta cảm nhận với ý thức rõ ràng khi đối thoại với những trẻ em trường mẫu giáo và các thanh thiếu niên của trung tâm trẻ, với các phụ huynh và những cộng tác viên người đời cùng chia sẻ sứ mạng giáo dục với chúng ta hằng ngày.

Nhưng hạn từ này muốn nói lên điều gì?

Cần phải hiểu từ ngữ này trong tổng thể của nó: không chỉ đơn giản là một tập hợp các công nghệ, kết quả của nền văn hóa đại chúng và văn hóa kỹ thuật số, nhưng là sự cùng tồn tại của những điều trên với thực tế của việc truyền thông giữa con người với nhau.

Cuộc sống được ghi dấu bởi truyền thông. Đó là kinh nghiệm mà chúng ta làm mỗi ngày: “Truyền thông là nói chuyện với người nào đó, là truyền hình, là tiếp nhận và trao đổi thông tin, là kiểu tóc, là văn chương: danh sách liệt kê thì vô tận”. (1)

“Truyền thông” là một “hạn từ như chiếc dù”, chỉ một từ mà có nhiều nghĩa và nhiều thực hành xã hội: là không gian và cơ hội gặp gỡ liên vị, được thực hiện trong đối thoại; là thông tin, trao đổi những kinh nghiệm, chia sẻ kiến thức và sự hiểu biết; là văn hóa qua cách thức hiện hữu và trình bày chính mình, cũng như qua truyền thống văn hóa được chuyển trao và lưu truyền; là các phương tiện truyền thông trong tất cả những dạng thức cũ và mới của chúng, từ in ấn đến điện ảnh, từ truyền hình đến truyền thông đa phương tiện, từ internet đến những môi trường xã hội hóa của nó. Vì thế, đó là một đề tài tổng hợp, một thể loại diễn giải sự phức hợp của thời đại chúng ta, một ý tưởng định hình một xã hội - xã hội truyền thông - nơi mà tất cả được giải quyết trong sự trao đổi thông tin, kết quả của một hệ thống những tương quan.

Sự hiện diện lan tràn, sự canh tân kỹ thuật, sự phổ biến chồng chéo của những sản phẩm truyền thông, những cơ hội đa dạng của các kênh và các chương trình để phân phối, sự tiêu thụ và hưởng dùng nói lên nền văn hóa ngày nay. Nói về “văn hóa truyền thông” nghĩa là nói đến một cách hành xử, một kiểu sống trong thế giới, một môi trường của đời sống, một bối cảnh hiện hữu.

Sự đồng quy kỹ thuật số

Chúng ta đi đến điều này, qua một tiến trình được gọi là “đồng quy kỹ thuật số”. Những kỹ nghệ mới không thay thế những phương tiện truyền thông cũ và thân thuộc: in ấn, điện ảnh, truyền thanh và truyền hình. Chúng tích hợp, hòa quyện, tăng cường. Thật vậy, có biết bao nhiêu phim ảnh được phân phối trên mạng và người ta xem trên YouTube? Biết bao nhiêu âm nhạc được nghe và tải xuống một cách hợp pháp hay bất hợp pháp? Có bao nhiêu web radio và web tv trở thành một phần không thể thiếu trong ngày sống của những người rất trẻ, cũng như của nhiều người lớn mà ở bên cạnh cửa sổ làm việc trên máy vi tính, họ mở những cửa sổ mạng xã hội hoặc chat trên MSN? Biết bao nhiêu thông tin được chuyển tải qua sự cập nhật liên tục trên những tờ báo trực tuyến (online) hoặc được chia sẻ trên Twitter và trên blog?

Sự đồng quy là khả thể truy cập bất cứ nội dung nào ở bất cứ nơi đâu (anywhere), vào bất cứ thời điểm nào (anytime), ngang qua bất cứ thiết bị nào. Sự phổ biến rộng rãi của hiện tượng này rất cao đến nỗi “hiển nhiên” là nó tồn tại và “cuộc cách mạng kỹ nghệ” là điều tự nhiên.

Hiện nay, sản phẩm của các phương tiện truyền thông được tiêu thụ dưới dạng giấy (sách, báo) và kỹ thuật số (sách báo điện tử); dễ dàng mang theo mình trên iPad và trên SmartPhone, ngang qua những kết nối nhanh chóng và liên tục, luôn luôn sẵn sàng với Bluetooth và wi-fi. Không chỉ thế. Trong tiến trình đồng quy kỹ thuật số tất cả những khía cạnh văn hóa hôm nay và hôm qua cũng được quan tâm tới. Một ví dụ? Việc thu thập, lưu giữ và phổ biến những ký ức cá nhân và xã hội được làm sẵn kể cả online.

Biên giới giữa nội dung và phương tiện để chuyển tải nội dung ngày càng mờ nhạt: từ năm 1964 McLuhan đã nói rằng: “phương tiện là sứ điệp” và thế giới là một “ngôi làng toàn cầu”. (2)

Nền văn hóa truyền thông quan tâm đến cả việc tổ chức truyền thông: các thiết bị có thể xách tay và gần như vô hình, dễ dàng sử dụng, sẵn sàng cho mọi người, ở mọi nơi và mọi lúc.

Điện thoại di động đúng là sự diễn tả của một thay đổi văn hóa thật sự: nhu cầu luôn luôn kết nối - được thỏa mãn bởi công nghệ không dây (wireless) - là chỉ số của nhu cầu truyền thông có trong mỗi con người; sự thu nhỏ của những phương tiện kỹ thuật, ngày càng thông minh hơn và nhỏ hơn, thỏa mãn nhu cầu của truyền thông cá nhân và luôn luôn tiện dụng. Người ta thấy một bước chuyển trong mô hình truyền thông: từ “một-truyền-thông-với-một” của các phương tiện truyền thông cho đến “một-truyền-thông-với-nhiều” và đến “nhiều-truyền-thông-với-nhiều” của những kỹ nghệ mới. Các phương tiện truyền thông mới (new media) cũng được gọi là “các phương tiện truyền thông của tôi” (my media) bởi vì diễn dịch một truyền thông kiểu “một-với-một-luôn-luôn-sẵn-sàng” và “tất-cả-luôn-luôn-có-thể-đạt-tới-được”.

Trong viễn cảnh này, mỗi cá nhân, mỗi nhóm, mỗi tổ chức cần liên tục thích nghi với những cải tiến nhanh chóng và hối hả về thiết bị cũng như về cách sử dụng. Đó là một lộ trình bắt buộc để đối diện với sự phân mảnh về ý thức hệ và giá trị đang áp đảo trên những thị hiếu và phong cách sống của bối cảnh xã hội và văn hóa.

Nền văn hóa mà chúng ta đang sống xác nhận rằng truyền thông là một thiện ích cơ bản, một quyền lợi mà cũng là một bổn phận, mà không thể từ bỏ. Nền văn hóa “mới” đòi hỏi một sự đào luyện đầy thách thức, hỗ trợ cho sự thay đổi lớn lao về não trạng: giáo dục chính mình một cách có trách nhiệm để ý thức về những tiềm năng và những nguy hiểm của các phương tiện truyền thông xã hội.

Trong Huấn thị “Tái xuất phát từ Đức Ki-tô” (2002), Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II đã viết về việc cần thiết phải thăng tiến bên trong những môi trường giáo dục một “nỗ lực văn hóa được canh tân” để giữ kịp bước với một thực tại luôn tiến hóa, để chuyển điệu suy nghĩ và hành động của chúng ta trong những ngôn ngữ và phong cách truyền thông, để làm cho sứ điệp Tin Mừng được hữu hình, để cho truyền thông có phẩm chất qua những phương tiện truyền thông mới và cũ, để làm trưởng thành nhân cách có khả năng bình phẩm và sáng tạo, có khả năng khám phá, đọc ra và giải thích những “hạt giống của Lời” trong nền văn hóa đương đại.

Nền văn hóa truyền thông không thiếu những mập mờ. Đó là một toàn cảnh đa dạng, mà trong những bối cảnh xã hội khác nhau, với những chứng cớ và biểu hiện, những tác động và lan truyền khác nhau, được cấu hình xung quanh hai thực tại: sự thay đổi và mô hình mạng.

Sự thay đổi

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II đã nhấn mạnh sự “phát triển nhanh chóng” của xã hội đương thời. Sự đổi mới nhanh chóng và sự phức tạp mà ngày nay chúng ta đang sống có thể sinh ra sự mất định hướng, nhầm lẫn, không chắc chắn.

Sự thay đổi là một điều vốn có. Con người, như một hữu thể xã hội, luôn luôn can thiệp, biến đổi, thích nghi, nhào nặn bối cảnh mà mình sống.

Chúng ta đã đề cập trước rằng, theo quan điểm kỹ thuật, người ta không tiến hành thay thế nhưng hòa nhập giữa các phương tiện truyền thông cũ và mới. Kết quả là tạo thành một hệ thống truyền thông tích hợp, mở rộng và tăng cường việc cung cấp và cơ hội cho những kênh và những sứ điệp tạo nên và truyền bá văn hóa. Trong bối cảnh mới này, khái niệm về không gian và thời gian được sửa đổi, biên giới của chúng ngày càng mờ cho đến lúc tất cả biến mất.

Kết hợp truyền thông đa phương tiện

Là khả thể mà ngang qua những kỹ thuật mới, một nội dung truyền thông được chuyển tải trên những phương tiện kỹ thuật khác nhau, sử dụng những dạng thức khác nhau: trong những chương trình giải trí, trong quảng cáo, trong việc sản xuất video và audio (âm thanh), trong việc xây dựng những trang web.

Điều thú vị là sự phụ thuộc lẫn nhau và gửi dữ liệu cho nhau giữa những phương tiện truyền thông: truyền hình, điện thoại di động, internet. Thật vậy, việc tiếp cận sự kết hợp truyền thông đa phương tiện đòi hỏi có sẵn những dữ liệu kỹ thuật số ngày càng nhiều và được cập nhật để sử dụng trên cơ sở của một kế hoạch thông minh của toàn bộ tiến trình truyền thông.

Ví dụ một câu chuyện có thể được giới thiệu trong một phim, được triển khai qua một loạt chương trình truyền hình, được phổ biến qua các tạp chí bằng giấy cũng như tạp chí điện tử (online) thuộc lãnh vực quan tâm đến đề tài đó, được phân phối trong các quầy bán báo. Mỗi một trong các sản phẩm này có thể được tiếp cận và sử dụng một cách độc lập, nhưng mỗi một sản phẩm là một “mắt xích” của tiến trình, thực hiện yêu cầu đã được xác định rõ để đạt đến mục tiêu. Bằng cách này, các phương tiện truyền thông khác nhau hỗ trợ cho những kinh nghiệm muôn màu muôn vẻ, kích thích người tiêu thụ và thu hút người dùng.

Sự phân cách kỹ thuật số

Hạn từ này chỉ ra sự bất bình đẳng trong sự phân phối việc tiếp cận và sử dụng những kỹ nghệ mới của thông tin và truyền thông giữa những nước công nghiệp hóa và những nước trên đường phát triển, cũng như giữa các nhóm dân cư khác nhau trong chính nội bộ của những nước công nghiệp hóa.

Đây là một đề tài phức tạp vì đụng đến những lãnh vực khác nhau của đời sống xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị. Có nhiều nguyên nhân của sự phân cách kỹ thuật số, và ngày nay càng trầm trọng hơn bởi một sự thay đổi nhanh chóng làm tăng khoảng cách giữa người có và người không có, giữa người có thể tiếp cận và sử dụng với người không thể tiếp cận và sử dụng, giữa người ngày càng trở nên giàu và người ngày càng nghèo đi.

Đó là một tình trạng mất cân đối ở bên cạnh và thêm vào cho vô số phân cách về nhiều lãnh vực của hành tinh: nghèo đói, thiếu điện, trình độ văn hóa thấp, những tình trạng suy đồi kinh tế và xã hội.

Một viễn cảnh khác cũng được xem như sự phân cách kỹ thuật số là sự bất bình đẳng trong sự tiếp cận và sử dụng những cơ hội mà “mạng” cung cấp: thông tin, sự hiểu biết, kiến thức, đoàn thể xã hội, tương quan, giải trí. Dường như thế giới bị chia một cách không công bằng thành những-người-giàu-thông-tin và những-người-nghèo-thông-tin. Vì thế, sự phân cách kiến thức trở nên sâu xa, và khẩn thiết phải xóa bỏ sự phân cách này bằng việc tạo ra những cơ hội (trường học, đào tạo giáo viên, những phương tiện giảng dạy) để mọi người có thể tiếp cận tất cả kiến thức và sự hiểu biết cũng như ký ức và sự khôn ngoan của các dân tộc và các nền văn hóa có trên mạng.

Mô hình mạng

Internet được gọi là “mạng của các mạng”, và chắn chắn là một trong những ẩn dụ mà người ta có thể đọc hiện tại (3), cũng như tốc độ, sự ngay lập tức, kết nối, mở ra, luân chuyển là những đặc điểm của xã hội chúng ta.

Việc xuất hiện của World Wide Web (hay WWW hay web) loại được gọi là “1.0”, chủ yếu là thông tin trong việc nối kết và truy cập, và hiện giờ là loại “web 2.0”, với chức năng chia sẻ và tương quan, là “giá trị được thêm”, đã hỗ trợ cho việc lôi cuốn, đóng vai chính, tham gia, tương tác. Trong tương lai không xa, sẽ ra đời World Wide Web loại “web 3.0”, hay là web ngữ nghĩa, muốn đảm bảo một sự tìm kiếm thông minh về ý nghĩa hơn là về từ ngữ, ngang qua công cụ tìm kiếm.

Cho dù có sự chênh lệch đáng kể và về cấu trúc, sự lan truyền của internet ảnh hưởng đến toàn thể cộng đồng nhân loại trong tất cả các châu lục; những người nam và người nữ ở mọi lứa tuổi, với những thực hành khác nhau, đều ít nhiều sử dụng và tiêu thụ những tài nguyên của các trang web.

Mạng không chỉ được xem như “một” kỹ nghệ thêm vào để sử dụng, nhưng còn hơn thế, được xem như một nơi con người cư ngụ: (4) thật vậy, đó là cách để hiện hữu, là nền, là kênh thường xuyên kết nối, tập luyện và phát triển, phương thức và công cụ để thể hiện bản thân và xác nhận quyền và nghĩa vụ của mỗi người trong việc truyền thông và lớn lên trong tương quan.

Khái niệm “xã hội nối mạng” (networked society) (5) cho thấy rõ rằng sự tương tác có tính ưu việt hơn là nội dung mà người ta trao đổi với nhau. Ngày nay người ta gán cho việc nối kết có tầm quan trọng hơn là việc chia sẻ những tư tưởng, ý kiến, suy tư. Một số đặc điểm xác định rõ hơn về "xã hội nối mạng" là:

- logic của mạng là sự đan xen phức hợp không chỉ kết nối giữa những hệ thống, mà còn giữa những con người và những tương quan đan kết với nhau;

- sự linh động của mạng làm nổi bật sự thay đổi, biến đổi và trôi chảy của kết cấu xã hội, liên quan không chỉ đến các tổ chức và định chế, mà đến cả đời sống của con người, vì thế ngày nay người ta không có những điểm quy chiếu xác định nữa: điều dường như đã đạt được hôm nay, thì ngày mai đã bị đặt lại vấn đề;

- sự đồng quy của công nghệ kỹ thuật số phác họa một hệ thống tích hợp những kênh truyền thông và những sản phẩm của văn hóa truyền thông.

Mô hình mạng cũng sửa đổi ý niệm về cách tổ chức, trong đó sự linh động và luân chuyển vòng tròn dường như thay thế cho trật tự và hệ thống phân cấp: người ta chuyển từ chiều dọc sang chiều ngang; người ta tập trung vào tiến trình được kích hoạt hơn là vào công việc; dành ưu tiên cho làm việc theo nhóm và có xu hướng đo lường mức độ phẩm chất và sự thỏa mãn của người sử dụng; cổ vũ cho tiến trình đào luyện và nâng cao phẩm chất con người.

Mô hình mạng được đặc nét bởi:

- Sự liên tục của kinh nghiệm giữa “trong” và “ngoài” mạng, giữa “online” và “offline”, thắng vượt sự tương phản thật/ảo. Biên giới giữa trong/ngoài rất mong manh, nhưng quan trọng là phải rõ ràng, nhất là liên quan đến đời sống của người trẻ: điều gì là “công cộng” và điều gì là “riêng tư”.

- Các thiết bị ngày càng đơn giản hơn trong việc sử dụng, tiến trình truyền thông của người sử dụng được đặt tại trung tâm (nội dung được tạo ra bởi người sử dụng). Người sử dụng trở thành người sản xuất các sản phẩm truyền thông chứ không chỉ là người tiêu thụ nữa. Họ có quyền truy cập, can thiệp, tham gia, xuất bản, truyền thông, sao chép, cắt, dán những nội dung tùy thích.

- Sự truy cập và sử dụng những nội dung. Trên web 2.0, các thanh thiếu niên có thể phát hành những hình ảnh, văn bản, phim, âm thanh dễ như chơi. Những sản phẩm này được gắn thẻ (gắn “tag”) để có thể dễ dàng được lấy lại bởi những người sử dụng khác, nhất là bởi những công cụ tìm kiếm trên mạng. Vì thế web là không gian ưu tuyển cho việc tụ tập và kể “những câu chuyện đan xen nhau” trong đó người ta cảm thấy mình ở trung tâm (spett-attori) chứ không chỉ là những người sử dụng ít nhiều năng động.

- Những dạng thức cộng tác và hợp tác trong việc viết và chia sẻ những nội dung như những người quản lý và biến đổi kiến thức. Một ví dụ về điều này là Wikipedia, một bách khoa tự điển trực tuyến (online), và những môi trường của các văn bản kỹ thuật số.

- Những diễn tả mới về dân chủ và quyền công dân liên kết những nội dung, những môi trường, những thành viên, những tổ chức. Đây là trường hợp của một số phong trào xã hội mà gần đây xuất hiện trong những đất nước phương tây cũng như phương đông. Những phong trào này được sinh ra giữa những người dân thường - vì thế mà được gọi là “từ bên dưới” - kích hoạt những lộ trình qua lại của những ý tưởng, những nội dung, những đề nghị, những cuộc biểu tình “từ đường phố đến internet”, và ngược lại. Trên mạng xã hội người ta phàn nàn, chia sẻ, kêu gọi quyên góp và xác định nơi chốn, ngày giờ gặp nhau để biểu tình, lên tiếng, diễn thuyết. Sau sự kiện, những trang Facebook, Twitter, YouTube đầy những lời bình, hình ảnh và video. Đó là một cách để “lên tiếng nói”, cống hiến phần đóng góp của mình, nhạy cảm hóa đám đông về một vấn đề xã hội, chính trị, tôn giáo trên bình diện địa phương cũng như toàn cầu.

Minh Trang, FMA chuyển ngữ
từ tài liệu của Ban Truyền Thông trung ương
Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ

-----------------------------

(1) John FISKE, Introduction to Communication Studies, Routledge, London-New York 1990, p. 1.

(2) Marshall McLUHAN, Gli strumenti del comunicare, Milano, Il Saggiatore 1967.

(3) Internet và World Wide Web trong ngôn ngữ hiện hành được sử dụng một cách trung lập, để chỉ về công nghệ của mạng cũng như những ứng dụng của nó. Hai hạn từ này không hoán đổi cho nhau. Internet là công nghệ kết nối giữa những máy vi tính liên kết trong mạng, trong khi Web (hay WWW) là siêu văn bản cho phép truy cập và tham khảo, nhờ một trình duyệt (browser), những nội dung ký gửi trên các máy chủ (server) của hành tinh. Vì thế, Web dựa trên Internet, nhưng cần cơ sở hạ tầng này để phát triển.

(4) Cf Chiara GIACCARDI (a cura di), Abitanti della rete. Giovani, relazioni e affetti nell’epoca digitale, Milano, Vita & Pensiero 2010.  

(5) Cf Manuel CASTELLS, La nascita della società in rete, Milano, Egea 2002 [tit. or. The Rise of the Network Society, Oxford, Blackwell Publishers Ltd, 2000].