Monday, Feb 19th

Last update:11:08:35 AM GMT

You are here: Tư liệu Giáo dục truyền thông Thách đố nhân học trong nền văn hóa truyền thông

Thách đố nhân học trong nền văn hóa truyền thông

Email In PDF.

Những thay đổi trong nền văn hóa kỹ thuật số không chỉ là về mặt kỹ nghệ, văn hóa, xã hội, kinh tế, mà trên hết là sự thay đổi nhân học và liên quan đến những chiều kích của con người: căn tính, tương quan, biểu hiện.

Mark Prensky đã định nghĩa những người trẻ sinh ra vào những năm Chín mươi và Hai ngàn là “những người sinh ra vào thời đại kỹ thuật số” (digital natives): được tiếp xúc từ lúc mới sinh với nền văn hóa thị giác và hình ảnh, họ đã học được cách sống với nhiều màn hình (truyền hình, máy vi tính, play station, điện thoại di động…). Prensky viết rằng: “Ngày nay các sinh viên của chúng ta không chỉ thay đổi tận căn so với những sinh viên trong quá khứ, cũng không chỉ đơn giản thay đổi ngôn ngữ, trang phục, trang sức trên cơ thể hay phong cách sống, như đã xảy ra trước đây giữa các thế hệ. Một tiến trình đứt đoạn sâu xa đã diễn ra. Một tiến trình mà chúng ta có thể định nghĩa là “độc đáo” biến đổi tận căn đến nỗi trở thành không thể đối với quá khứ. Điều được gọi là “độc đáo” này là sự xuất hiện và lan tràn nhanh chóng của công nghệ kỹ thuật số trong những thập niên cuối của thế kỷ hai mươi”.1

Theo một số nghiên cứu, não của thế hệ mới chịu một sự biến đổi về những liên kết tế bào thần kinh, thay đổi và biến đổi những khoảng cách thế hệ truyền thống trong một cái gì đó mới mẻ: một vực thẳm mà những nhà khoa học gọi là khoảng cách não (brain gap).2 Nơi những trẻ em có tương tác sớm với truyền hình và máy vi tính, những kết nối trong não phát triển theo cách khác với những người thao luyện trong hoạt động đọc và viết hoặc hoạt động cơ thể. Đặc biệt, ngày nay hai thế hệ có cấu trúc não khác nhau do những kinh nghiệm về nhận thức khác nhau nên sẽ đối thoại với nhau cách khó khăn khi tiếp xúc với nhau. Cũng theo Prensky, kết cấu xã hội dường như bị chẻ làm hai nhóm văn hóa lớn: “những người sinh ra vào thời đại kỹ thuật số” (digital natives) và “những di dân của thời đại kỹ thuật số” (digital immigrants) là những người lớn, mặc dù đã được trù liệu, họ bị buộc sống trong thế giới của những công nghệ kỹ thuật số.

Những người trẻ chuyển từ tư tưởng logic-lý trí sang tư tưởng trực quan: học tập đối với họ không đơn giản có nghĩa là nhận thông tin, nhưng đúng hơn là làm kinh nghiệm, thử, biến đổi, cấu hình lại, đoán xét, trao đổi; làm sắc nét sự nhạy cảm và quá trình nhận thức khởi đi từ hình ảnh; họ quen để những kinh nghiệm làm của chung, đối chất với nhau một cách trực tiếp, cho lời khuyên và đối thoại một cách đồng thời. Ngày sống của họ lướt từ bàn phím này sang bàn phím khác, bận rộn trong một hoạt động được gọi là đa nhiệm (multitasking), nghĩa là khả năng xử lý và tiến hành nhiều hoạt động trong cùng một thời gian, sử dụng nhiều kênh truyền thông: vừa học vừa chat, vừa nghe radio và tải nhạc, cập nhật Facebook và Twitter, xem tivi online, xử lý tin nhắn sms và nhá tin trên điện thoại di động.

Sự thay đổi nhân học bao trùm cả trong nhu cầu tương quan, bởi vì con người là một tạo vật của truyền thông và trao đổi: những tình bạn trực tuyến (online) được nhân rộng và những quan hệ trên mạng tạo ra những môi trường trong đó người ta “ở bên nhau”, nhưng đồng thời những tương quan xem ra suy yếu, làm cho mình ngày càng trở nên xa với những truyền thống của các mối tương quan mạnh mẽ của quá khứ, như những tương quan gia đình. Bằng một hình ảnh chúng ta có thể nói rằng người ta ngày càng mở rộng theo chiều ngang, nhưng làm phương hại về chiều sâu và về sự mãnh liệt của những tương quan và phẩm chất của truyền thông.

Cư dân kỹ thuật số

Ở bên cạnh những người trẻ, đồng hành với họ và giáo dục họ ngày nay đòi hỏi một nỗ lực đáng kể trong việc biết và hiểu những ngôn ngữ của họ, những hình thức diễn tả của họ. Một lăng kính để hiểu thế hệ mới là những trao đổi truyền thông thiết lập giữa họ với nhau và với những người khác. Họ chuyển mình ngang qua những văn hóa và địa lý khác nhau của mạng, đi vào trong tương quan với những ngôn ngữ và văn hóa khác, tạo nên những môi trường kỹ thuật số toàn cầu thật sự và của mình.

Trong lúc xã hội hóa và làm kinh nghiệm những năng động lực tương quan rộng lớn, họ cố gắng xây dựng căn tính, được cụ thể hóa trong một cách nhìn “khác” về tương quan với chính mình, với những người khác, với thực tại, với cõi siêu việt: họ đặt mình trong nhiều không gian và thời gian, ngày càng hướng ra bên ngoài của mình.

Trong những hình thức mới của việc diễn tả chính mình như hình ảnh, mốt, các loại nhạc, nghệ thuật, ẩn giữa những hàng chữ của những lời bình trên mạng xã hội, là sự tìm kiếm ý nghĩa, sự thuộc về, đối thoại, tương quan. Trong việc từ chiều kích địa phương vượt qua hoàn vũ, trong việc chuyển mình giữa những thế giới thật và ảo, mà thường xuyên hòa trộn với nhau, các thanh thiếu niên và những người trẻ gán những ý nghĩa mới cho điều nào là thật và điều nào là ảo, được sống và được truyền thông, được xây dựng và được học hỏi. Mario Morcellini khẳng định rằng: “Sự lấp lánh của những kỹ nghệ thông tin dường như cung cấp bối cảnh, từ vựng và sự diễn tả cho một thế hệ mạng, nghĩa là họ tìm thấy nơi các phương tiện truyền thông một trong những mảnh đất quan trọng của việc nhìn nhận căn tính và gán ý nghĩa cho thực tại”.3

Bước vào những môi trường mạng xã hội của internet, được gọi là cộng đồng trực tuyến (online), thì vô cùng tự do, được đảm bảo bằng một cú nhấp chuột (click) đơn giản: tại đây người ta có thể vun trồng nhiều sự thuộc về và làm kinh nghiệm về những căn tính khác nhau. Cái tôi kỹ thuật số là cơ hội để “thực hành” căn tính của mình và những tương quan của mình trong những môi trường luôn luôn thay đổi của mạng, được hỗ trợ bởi một sự kết nối thường hằng và bởi những diễn đàn cho phép cá nhân hóa và sinh động những nội dung, diễn tả những sở thích, những thói quen và những thái độ cá nhân. Có mối nguy về sự đa căn tính, vì sự phát triển liên tục, thử nghiệm và thích ứng với các môi trường ảo khác nhau, nơi có thể xảy ra sự "hòa lẫn" giữa chiều kích công cộng và riêng tư.

Du mục là một điều kiện của những “cư dân kỹ thuật số”, họ “đi qua” những không gian được xây dựng và công nhận bởi những thị hiếu và sở thích, tình bạn và thời gian rảnh. Với sự lớn dần của tuổi tác người ta kiểm nhận một sự "di cư" từ những cộng đồng đông đúc và công cộng, mở ngỏ và không kiểm soát, đến những không gian nơi mà giao tiếp trở nên hạn chế hơn, riêng tư và thân hữu hơn. Chiều kích “chuyển đổi” của truyền thông trên mạng là dấu chỉ của sự bấp bênh văn hóa và của sự thay đổi xã hội, làm cho con người trở nên “người bộ hành trên miền đất chính giữa”, và đẩy đến những lựa chọn tạm thời để đạt được trạng thái cân bằng ngày càng mong manh.

Thật vậy, mạng có thể hoặc có nguy cơ liên tục ở trên bề mặt, không có ranh giới giữa bên trong và bên ngoài, trả về một hình ảnh của thế giới và con người được nhìn, nhưng cũng được chạm đến, thường khép kín trong một vòng tròn tự tham chiếu trong đó người ta không thấy gì khác ngoài bản thân. Quan trọng là nhu cầu truyền thông và tương quan, mà mạng khuếch đại và làm cho có thể ở mức độ chiều ngang, phải tạo ra một khe hở, mở ra với cõi siêu việt, với cái “hơn” mà nó tự mình không thể cho được. Đó là đóng góp đầy tính nhân bản mà tiếng nói và sự hiện diện của những người công giáo trong “lục địa kỹ thuật số” có thể cống hiến cho “đông đảo dân chúng của mạng” và cho thời đại này, như Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã xác định trong sứ điệp của ngài nhân ngày Thế giới Truyền thông Xã hội năm 2009. Chỉ như vậy mới có thể đảm bảo không chỉ sự kết nối, mà còn cả sự hiệp thông.

Mạng để học tập

Những công nghệ kỹ thuật số mới với sự phát triển của mạng có thể làm cho tốt hơn một cách đáng kể kinh nghiệm học tập của những người sử dụng chúng cho sự đào luyện của mình.

Những lý thuyết học tập gần đây đã làm nổi rõ tầm quan trọng nền tảng của bối cảnh xã hội trong tiến trình học tập. Theo Thuyết Xây dựng xã hội-văn hóa, chủ thể học tập “xây dựng” khả năng của mình, làm phong phú hóa nó và tái cấu trúc nó ngang qua tương quan với kiến thức và với những quan điểm của các cá nhân khác; vì thế, sự học tập cá nhân là sản phẩm của một tiến trình của nhóm: tất cả những gì được học tập thì được lọc bởi một tiến trình của giải thích được điều kiện hóa bởi bối cảnh, bởi hành trang văn hóa của mình và bởi những gì cá nhân đã sống. Trong bối cảnh này, sự lan rộng và phát triển của những công nghệ thông tin và của truyền thông mở ra trong thế giới của giảng dạy những quang cảnh mới và những khả thể mới để phát triển, cho phép tự động hóa, tái tạo hoặc mô phỏng - ngang qua sự hỗ trợ của những phương tiện truyền thông mới và việc sử dụng mạng - một số tiến trình điển hình giảng dạy truyền thống và kết nối những cá nhân với những thông tin vô tận và với một tập hợp các cá nhân cũng rộng lớn như thế mà với họ có thể tương tác và cộng tác. Việc sử dụng những phương tiện truyền thông mới trong tiến trình đào luyện, đặt nền trên sự học tập mang tính hợp tác, cụ thể là trên “cố gắng hỗ tương của những người tham gia trong một nỗ lực được điều phối để cùng nhau giải quyết một vấn đề hoặc xây dựng nền tảng kiến thức và trao đổi", mang theo mình những tình trạng liên can như: nhấn mạnh trên “vừa học vừa làm”, lôi cuốn sinh viên trong việc hợp tác nghiên cứu kiến thức, và thay đổi vai trò của huấn luyện viên, dù là giảng viên hay nhà giáo dục, từ một người nắm giữ quyền bính và kiến thức trở thành một người hướng dẫn và tạo dễ dàng cho việc học tập.

Vì thế, vào lúc này, mạng diễn tả một cơ hội và một thách đố cho việc học tập: ai biết nhận lấy thách đố này sẽ thành công trong việc đưa ra không chỉ những nội dung mới và phù hợp với thời đại, mà còn cả những cách thức ngày càng hữu hiệu, ứng với những đòi hỏi đào luyện mới và những cách thức truyền thông của “thế hệ kỹ thuật số”.

Công nghệ giảng dạy, bởi các đặc tính của nó, có thể tạo dễ dàng việc học tập bởi vì nói cùng một ngôn ngữ của thanh thiếu niên và bởi vì cung cấp khả năng sử dụng những ngôn ngữ khác nhau, các mã khác nhau, nói với cả tám loại 'trí thông minh' của chúng ta (Gardner, intelligenze multiple).4

Những cơ may và những mối nguy

Tương quan giữa những người trẻ và truyền thông trên mạng mở tung cho những nguồn tài nguyên mới và chưa từng nghĩ đến cho việc giáo dục.

Sự ra đời của mạng định nghĩa lại không gian của khế ước giáo dục: không chỉ thay đổi cách "làm giáo dục", nhưng cũng thay đổi cả "dung mạo" của người trẻ đang trong cuộc phiêu lưu để trở thành một người nam hoặc một người nữ trưởng thành.

Don Bosco đã dạy chúng ta rằng giáo dục là “việc của con tim” và phải khởi đi từ điều mà người trẻ thích, cho dù ngày nay điều đó có nghĩa là phải vất vả và nỗ lực để biết thế giới của họ, bước vào đó, chiến đấu với cảm giác lạc lõng, sự sợ hãi không theo kịp thời đại.

Đối với những người trẻ “lớn lên cùng với internet” của chúng ta, mạng cống hiến nhiều cơ hội:

- Nhân vật chính trong một không gian “thật” của kinh nghiệm một cách khác được bố cục và thống nhất bởi những thực hành và những tương quan.

- Cá nhân trong tương quan: con người không được tuyệt đối hóa, cũng không bị mất hút trong nhóm, nhưng trong tương quan mà xây dựng căn tính của mình, ngang qua một sự quản lý cân nhắc của những đường nét của mình, trong tương quan với những người khác.

- Tương tác, bởi vì internet không chỉ là một nơi lưu trữ thông tin mà còn là một môi trường của tương quan, không chỉ là công nghệ cho các kiến thức, mà còn là mạng để truyền thông.

- Trách nhiệm và hỗ tương bởi vì mạng hỗ trợ khả năng mở ra với người khác. “Được kết nối”, khắc phục những hạn chế của không gian và thời gian, trở thành một điều kiện để kiện cường vẻ đẹp của sự gặp gỡ, nối dài sự tuyệt diệu và ngỡ ngàng của tương quan liên vị.

- Cá nhân hóa giáo dục và học tập để đánh giá trị của đóng góp cá nhân. Ý niệm về trí tuệ tập thể cho rằng trên mạng có “một trí tuệ được phân phối mọi nơi, liên tục được đánh giá, điều phối trong thời gian thực, đưa đến một sự huy động hữu hiệu của những năng lực”.5 Không phải là một tổng hợp của trí tuệ, nhưng là một sự hiểu biết “mới”. Mạng cho phép đối chất và đối thoại với đa phương pháp tiếp cận, đưa ra các chiến lược tìm kiếm, chia sẻ, phát triển những khả năng diễn đạt mới và khác nhau, chấp nhận sự đa dạng của những tư tưởng và những giải pháp cho các vấn đề.

- Tái định nghĩa những khả năng và những tương quan trong giáo dục: mở ra những con đường cho việc lập kế hoạch lại về làm và hiện hữu, về cùng nhau “xây dựng”. Cần đào luyện mình và liên tục đặt câu hỏi về thực tại hằng ngày, giải quyết những vấn đề không một cách vĩnh viễn, nhưng luôn luôn sẵn sàng di dời trong những không gian mới của truyền thông.

- Khả năng “ở với”, chia sẻ, đồng hành hỗ tương trong những giai đoạn chuyển tiếp đặc biệt cũng như trong thường nhật. Chính trong không gian tương tác của mạng mà diễn ra truyền thông, nơi xảy ra việc cho và nhận thật trong cuộc sống xã hội. Các học giả khẳng định rằng những tương quan qua các phương tiện truyền thông được ghi dấu bởi chiều kích của ban tặng và nhưng không.

- Khả năng nói về mình với sự tin tưởng, xây dựng từ dưới thấp một không gian trong đó chiều kích cá nhân được để chung. Mạng dường như đã phục hồi quyền công dân cho chữ viết. Những mạng xã hội, đặc biệt là blog, nổi bật về những chuyện kể, tư tưởng, lời bình. Một cơ hội để đọc và viết “giữa và vượt quá những dòng chữ” lịch sử và những câu chuyện, để không chỉ sống trong hiện tại, trong một “ở đây và lúc này” vô hạn, nhưng trau dồi khả năng kể lại để mở ra cho người khác và cho sự hỗ tương.

Chiều kích rộng mở của mạng hấp dẫn và lôi cuốn. Kết nối nhanh chóng, khả năng tương tác liên tục, sự nhân rộng những tương quan là những tiết điểm triển vọng để chúng ta và những người trẻ cùng nhau khởi sự những tiến trình giáo dục truyền thông đích thực.

Nhưng chúng ta không thể không xem xét một số khía cạnh khơi dậy những nghi vấn, bởi vì chưa hoàn toàn rõ ràng những năng động lực và những phát triển mà truyền thông qua trung gian máy vi tính sẽ mang lại:

- Những hình thức tầm thường hóa để tránh xung đột hoặc để được bằng lòng, nơi mà người ta không diễn tả lập trường khác với lập trường của nhóm; không muốn "nổi lên" như một con người, ngăn cản trách nhiệm cá nhân và chứng tá.

- Diễn tả sự thân mật qua những mô hình "được vạch ra" cho nhóm, hoặc diễn tả chủ yếu ở hình thức gián tiếp và qua trung gian.

- Ưu thế của từ ngữ hoàn toàn xã giao, nghĩa là duy trì liên lạc, làm nghèo sự trao đổi và làm cho không thể gặp gỡ, điều vượt trên việc “ở với”.

- Tình bạn được xây dựng trên sự giống nhau và thân thuộc, bỏ ra ngoài tất cả những gì là "khác" về độ tuổi, quyền hạn, sự khác biệt của những lịch sử và quan điểm. Mạng không được trở thành một "cái hang", nơi để tìm sự trú ẩn, mà phải trở thành "nhà", nơi mở ra cho người khác là sư phạm của gặp gỡ và truyền thông.

- Thiếu sự nối liền giữa chiều kích công cộng và riêng tư của truyền thông trong và ngoài mạng: cuộc sống là một dòng chảy vô tận của những tiếng reo chuông điện thoại và những kết nối nơi mà thường không có chỗ cho thinh lặng, suy tư, những tư duy có nhận định, suy nghĩ về những nỗi đau và những niềm vui.

- Có khả năng "bẻ cong" các thiết bị công nghệ cho mục đích riêng của mình, bất kể những tình trạng liên can về đạo đức và chức năng của các thiết bị sử dụng.

Trong những năm gần đây, trên nền của những nghiên cứu khoa học và những tin tức, ngày càng trở nên rõ ràng và đáng báo động xác tín rằng internet là một hình thức mới của nghiện. Không nghi ngờ gì nữa, sự nhanh chóng, ngay lập tức, giá rẻ, giấu tên là những đặc nét của truyền thông trực tuyến (online) có thể tạo nên trong nhân cách tâm lý và xã hội mỏng giòn những quá trình sai lạc: từ những người “lướt” mạng thành những người “bị chết chìm” trong mạng. Biết những rủi ro và nguy hiểm ở trên mạng và sự gây nghiện, thúc đẩy chúng ta nhận lấy những cách tiếp cận có phân định và có trách nhiệm, trong đó nhìn nhận internet có một tiềm năng để hiểu, giải thích và sử dụng đúng đắn.

Chứng rối nghiện internet (Internet Addiction Disorder - IAD) là tên của hội chứng nghiện internet, có thật như nghiện rượu. Cũng như những bệnh lý nghiện khác, chứng nghiện internet cũng gây nên những vấn nạn xã hội, những ước muốn không kiểm soát được, triệu chứng rút lui, cô lập, khó khăn kinh tế và việc làm. Để tránh việc mạng biến thành cái bẫy, cần nhìn tổng thể đời sống của những người trẻ. Giáo dục phải đồng quy về tiềm năng cá nhân, nhân bản, tâm linh và văn hóa để đồng hành với họ trong việc tăng trưởng như những con người. Đối với người lớn, bên cạnh việc phân tích sự thay đổi xã hội, khoa học và kỹ thuật, cần một sự đào luyện trường kỳ vượt quá những phòng học, những bức tường của gia đình.

Con người sinh ra, lớn lên và sống trong một bối cảnh ngày càng “trong mạng”: thách đố là cung cấp những tọa độ để học biết lướt mạng trong sự phức tạp và trong kết nối, trưởng thành một não trạng biết nhận định, suy nghĩ, có khả năng chọn lựa, lên tiếng và bảo vệ giá trị của một nền văn hóa phục vụ sự sống, trau dồi khả năng trong sự tiếp nhận chính mình, trong sự gặp gỡ tích cực với những người khác (phái tính, dân tộc, văn hóa) và với Thiên Chúa.

Chúng ta đang ở “thời gian chuyển tiếp” để sống mà không mất đi nhiệt huyết, nhưng tiếp nhận với hoàn toàn ý thức những thách đố tại chỗ để chuyển trao cho những người được trao phó cho chúng ta sự can đảm và niềm vui vốn có trong hành trình đang diễn ra. Cần những nhà giáo dục (và những nhà truyền thông) làm chứng cho niềm hân hoan và sự cương quyết tự bên trong để đối diện với biển cả rộng mở của sự biến đổi; chính họ trước tiên là những người nam và người nữ của cuộc hành trình, những nhà thám hiểm khiêm tốn và kiên trì biết nhắm thẳng vào đất liền còn lại, nhưng luôn luôn ở phía trước mặt; không luôn luôn có tất cả mọi câu trả lời, nhưng biết một vài bí quyết thực tiễn và cụ thể để sống mà không quá sợ hãi, và để tiếp tục tin tưởng vào con đường mà ban đêm chúng ta chỉ có ngôi sao Bắc đẩu.

Hiểu được nền văn hóa truyền thông là gì, đào sâu và làm rõ một số hiện tượng tổng quát hơn cả, những nguồn lợi và những thách đố của nền văn hóa ấy, làm nổi lên những chất vấn cho căn tính đoàn sủng của chúng ta.

Minh Trang, FMA chuyển ngữ
 từ tài liệu của Ban Truyền Thông trung ương
 Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ

-----------------------------

Mark PRENSKY, Digital Natives, Digital Immigrants in The Horizon, Bradford: MC University Press, 2001, 9-5.

Cf Gary SMALL - Gigi VORGAN, iBrain: Surviving in the Technological Alteration of the Modern Mind. New York, Harper Collins 2008.

Cf Simona TIROCCHI - Romana ANDÒ - Marzia ANTENORE, Giovani a parole. Dalla generazione media alla networked generation, Milano, Guerini & Associati 2002.

Howard Gardner trong cuốn sách “La Teoria delle intelligenze” của ông đã khám phá tám loại trí thông minh khác nhau: ngôn ngữ, logic-toán học, âm nhạc, tương quan liên vị, nhận thức bản thân, hình ảnh-không gian, vận động cơ thể, tự nhiên. Các công nghệ mới hòa hợp một cách hoàn hảo với những thông minh đa dạng này: thật vậy, chúng cho phép quản lý các môn học theo những quan điểm khác nhau. Vì thế, công nghệ mới về kỹ thuật số là những công cụ hữu hiệu để kiện cường những gì còn thiếu sót liên quan đến một trong tám loại trí thông minh trên.

Pierre LÉVY, L’intelligenza collettiva. Per un’antropologia del cyberspazio. Milano, Feltrinelli 2002, 34 (tit. or. L’intelligence collective. Pour une antropologie du cyberspace, Paris, Éditions La Découverte 1994).