Tuesday, Feb 28th

Last update:06:52:08 AM GMT

You are here: Chuyên đề Sa-lê-diêng Lòng thương xót và Chân lý trong phong cách sinh động của Maria D. Mazzarello

Lòng thương xót và Chân lý trong phong cách sinh động của Maria D. Mazzarello

Email In PDF.

Dẫn nhập

Tôi xin để cho những lời của Đức Thánh Cha ngỏ tại Firenze soi dẫn chủ đề này: “Cha ao ước một Giáo Hội hồ hởi với khuôn mặt của người mẹ hằng am hiểu, đồng hành, ‘vuốt ve’ - ấp ủ. Cả anh chị em có mơ một Giáo Hội này ... không?”1.

Tôi nhìn thấy nơi Maria Mazzarello khuôn mặt này của người mẹ khôn sáng và dấu yêu, mạnh mẽ và đồng thời dịu dàng. Nơi mẹ tỏa chiếu những đặc điểm cơ bản của Hệ thống dự phòng.

Con người nhân bản đã được nhào nặn bởi tình yêu và bởi sự thật, vì đã được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, Agape và Logos, tình yêu xót thương và Ánh sáng của sự thật.

Những chiều kích này thì bất phân nơi Thiên Chúa cũng như nơi con người. Sống đức ái trong sự thật là nền tảng trên đó thiết lập những quan hệ lành mạnh, một xã hội tốt lành, thực hiện một phát triển toàn diện của các nhân vị và của nhân loại.

Đức Ái trong sự thật làm cho cuộc đối thoại, việc truyền thông và sự hiệp thông nên có thể.

«Chỉ trong sự thật, đức ái mới tỏa chiếu và mới có thể được sống cách đích thực. Sự thật là ánh sáng vốn cống hiến ý nghĩa và giá trị cho đức ái... Không có sự thật, thì đức ái tuột vào duy tình cảm. Tình yêu trở thành một cái vỏ rỗng tuếch để đong đầy nó một cách tùy tiện. Là nguy cơ gây tử vong của tình yêu trong một nền văn hóa không có sự thật … Sự thật giải phóng đức ái khỏi những hạn hẹp của một đa cảm thiếu hụt các nội dung quan hệ và xã hội, và của một niềm tin vốn tước bỏ nhịp thở của con người và của vũ trụ »2.

«Sự khả tín của Giáo Hội chuyển qua con đường của tình yêu xót thương và thông cảm»3. Cả tính khả tín của giám đốc Salêdiêng cũng chuyển qua từ đây.

Maria Domenica, một người nữ hằng biết tới sự trìu mến của trái tim Chúa

Lòng Xót Thương là trái tim của Thiên Chúa. Vì vậy, cả trái tim của tất cả những ai nhận ra mình là thành viên của một đại gia đình con cái Ngài cũng phải là thế.

Trong lá thơ Luân lưu số 956, Mẹ Bề Trên Tổng Quyền nhắc nhớ chúng ta một chân lý cơ bản của đời sống chúng ta:

«Cả hiện hữu của chúng ta cũng là một ngụ ngôn của lòng thương xót, đối tượng ưu biệt của một ánh nhìn yêu thương được trao ban cách nhưng không. Chỉ ai làm kinh nghiệm nó mới có thể ban trao và tuôn tràn trên những người khác».

Đây là chìa khóa! Để là dấu chỉ của lòng xót thương, “dấu chỉ của tình yêu mà Thiên Chúa yêu” (k. 52) cần cư ngụ trong Ngài, làm kinh nghiệm về chân lý của Ngài. Chân Lý của Thiên Chúa là tình yêu thương xót. Ngài «không gì khác là Tình yêu, một tình yêu hằng trao ban cách nhưng không»4  và đợi chờ tình yêu của chúng ta.

Một hôm, Cha Ermes Ronchi đã nói: “Nỗi bất hạnh tồi tệ nhất có thể xảy ra là nỗi bất hạnh sai lầm về Thiên Chúa. Bởi vì sau đó bạn sai lầm về con người nhân bản, về lịch sử, về chính cảm thức hiện hữu của bạn”.

Từ kinh nghiệm về Thiên Chúa và về Đức Giêsu của mẹ Mazzarello, ta khám phá ra loại tương quan vốn được đan dệt với các nhân vị, với chính mình, với thế giới.

Để hiểu được những đặc nét sinh động của mẹ, ta hãy dừng lại để nêu rõ khuôn mặt của Đức Giêsu được mẹ Mazzarello nhận biết và kính yêu. Về điều này mẹ là “dấu chỉ” trong suốt cuộc sống.

Đức Giêsu là ai đối với Mẹ Mazzarello?

Là ‘người yêu’ và là người được yêu: “Chúa thương các chị em lắm, phần chúng ta là có muốn được tình yêu này, có phải không các chị em?” (L 27,2); “Chúa Giêsu thương các chị em... Các chị em hãy xác tín đi, những ai được Chúa thương thì Ngài gửi nhiều đau khổ hơn, họ là những người gần Ngài hơn …” (L 39,4); “Chúa Giêsu sẽ làm những gì còn lại” (L 28,5; 29,1); “Chị em hãy yêu Chúa Giêsu thật nhiều” (L 47,11) “Chị em hãy lo học biết yêu mến Thiên Chúa” (L 23,6).

• Là vị hôn phu hằng yêu thương chúng ta và chờ đợi chúng ta ở trên Trời để đón nhận chúng ta “như một vị hôn phu đón nhận hiền thê của mình” (L 40,3); “chúng ta là và tất cả chúng ta muốn là những hiền thê say mê của Đức Giêsu”5;

• Là người tín nhiệm, là vị an ủi, người đã làm tất cả, giải quyết mọi sự: “Chị em hãy tín thác nơi Đức Giêsu, hãy đặt tất cả những buồn bực vào Trái tim của Ngài, hãy để cho Ngài làm, Ngài sẽ giải quyết mọi sự” (L 25,3); “hãy luôn chạy tới Chúa Giêsu. Ngài sẽ giúp con thắng bản thân con bằng ân sủng và sức mạnh để chiến đấu và Ngài sẽ ủi an con” (L 57,2); “hãy có lòng tin tưởng vững mạnh vào Chúa Giêsu … và chị em hãy tin rằng không có Ngài chị em sẽ chẳng làm được điều gì tốt lành đâu” ( L 64,1); “hãy đón nhận tất cả từ đôi tay rất thánh của Chúa Giêsu, hãy đặt trọn niềm tin tưởng nơi Ngài và hoàn toàn hy vọng vào Ngài... Khi con mệt mỏi và đớn đau con hãy đến đặt mọi âu lo của con nơi Trái tim của Chúa Giêsu và ở đó con sẽ tìm được niềm an ủi và sự đỡ nâng” (L 65,1,3); “chị em hãy chạy đến Chúa Giêsu với trọn niềm tin tưởng” (L 66,4);

• Ngài là sức mạnh của chúng ta, là nguồn năng lực của chúng ta: “Chúa Giêsu phải là tất cả sức mạnh của chị em. Với Chúa Giêsu, mọi gánh nặng trở thành nhẹ nhàng, những mệt mỏi thành êm dịu, những gai nhọn thành dịu dàng... Nhưng chị em phải thắng vượt chính mình, bằng không mọi sự sẽ trở thành vô cảm và sự xấu xa sẽ như những mụn nhọt, nó sẽ nổi lên trong tâm hồn” (L 22,21; 37,12; 64,5);

• Có khuôn mặt của người mẹ: «Khi chị em có nỗi buồn lòng nào, chị em hãy trình bày với Chúa; hãy thưa với Ngài như chị em nói với người mẹ của chị em, chị em hãy nói bằng cả thổ ngữ, với tất cả sự đơn sơ và tín thác, vì Ngài có thể giúp chị em»6.

• Ngài làm việc trong chúng ta: «Chị em hãy luôn nghĩ rằng chị em chẳng có khả năng làm được gì và điều mà chị em tưởng mình biết lại là chính bàn tay của Thiên Chúa làm nơi chị em» (L 66,2).

• Ngài đong đầy chúng ta bằng những ân điền và khả năng: «Mẹ đã nhắc nhở rằng đừng ai so sánh với một người khác đã làm việc ít hay đã làm những công việc không nổi tiếng, nhưng Ngài đã muốn mỗi người hãy làm những gì có thể bằng cách làm tốt nhất mà họ biết và có thể, vì mẹ đã nói: “Thiên Chúa không hỏi kết quả là làm được hơn người khác, nhưng là đã nỗ lực đem hết nén bạc mà Ngài đã ban cho ta chưa»7.

• Làm cho cuộc gặp gỡ với các chị em nên có thể: “Một người con mà yêu mến Chúa Giêsu nhiều thì hòa hợp với tất cả” (L 49,6). Theo mẹ Mazzarello: thực sự là những chị em chỉ với tình yêu của Chúa Giêsu. Cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu mở trái tim ra cho cuộc gặp gỡ với các chị em ở gần và ở xa. Nơi Ngài mẹ nhận biết và đạt tới các chị em. Trong Trái tim của Chúa Giêsu, trung tâm thiết thực của hiệp thông, biểu lộ cho các chị em và các em nội trú sự trìu mến mẫu tử thiêng liêng của mẹ8. Sr. Maria Domenica viết cho các vị truyền giáo khởi hành đi Châu Mỹ: “Các chị em hãy năng đi vào trong trái tim của Chúa Giêsu, cả mẹ cũng sẽ vào đó và như thế chúng ta sẽ thường ở gần nhau để nói với nhau nhiều điều”9.

Chúa Giêsu của mẹ Mazzarello là Thiên Chúa ở cùng chúng ta trong Thánh Thể, là nguồn mạch của lòng thương xót trong Bí tích Hòa giải, là Thiên Chúa của những cuộc gặp gỡ, một trung tâm thiết thực của hiệp thông giữa các chị em và các thiếu nữ, một không gian trải rộng trong thông hiệp thực sự giữa các nhân vị và hủy bỏ khoảng cách.

Khởi đi từ các nguồn mạch và từ những nghiên cứu ý nghĩa hơn cả, suy diễn được linh đạo Thánh Thể của Maria D. Mazzarello, đã được thuần hóa và sống ngay từ thời thơ ấu, góp phần để trưởng thành căn tính phụ nữ rộng mở cho Thiên Chúa, cho các chị em, cho thế giới, cho những người trẻ để mẹ giáo dục. Thật là tuyệt nghĩ rằng hành trình về người nữ say mê của Chúa Giêsu và hướng dẫn các chị em của mẹ diễn ra trong ánh sáng và sức mạnh của Thánh Thể.

Để hiểu mẹ Mazzarello, cần phải thâm nhập vào thế giới kinh nghiệm của mẹ về Thiên Chúa.

Điều mà mẹ đã nhắc nhở các chị em truyền giáo tiên khởi: “Bao có thể các chị em hãy duy trì tinh thần kết hợp với Thiên Chúa, chị em hãy liên tục ở trước sự hiện diện của Ngài”(L 23,3), mẹ sống điều đó. Mẹ cảm thấy nhận chìm trong tình yêu của Chúa Giêsu và trong tình yêu này mẹ thiết định tất cả mọi quan hệ, bằng cách bảo vệ tính linh thánh của con người nhân bản. Ở lại trong tình yêu bằng cách vun trồng nét tế nhị của những tâm tình theo phong cách của Chúa Giêsu (cf Gl 4.19) và như thế, tất cả mọi người đều được nhìn nhận, lắng nghe, bao bọc bằng tình yêu này.

Điều đã chạm tới Anselm Grün nơi mẹ Mazzarello là nét “đơn sơ của cõi lòng”. Ngài viết là “ngài đã ấn tượng”. Cõi lòng đơn sơ đã trở thành một với Thiên Chúa, như thế mẹ nhìn những sự vật và con người trong Ngài. “Mẹ không lẫn lộn những dọi phóng của mình trong nhận định thực tại”.

“Maria không nói về thực tại huyền bí. Nhưng nét đơn sơ của cõi lòng cho thấy mẹ đã cảm nghiệm Thiên Chúa và không gì là nhân bản lại xa lạ với mẹ. Chính vì vậy có thể nói về những yếu đuối nhân bản với tình thương mến mà không chút bực bội, phẫn nộ. […] Đối với Maria tất cả đều là tự nhiên: tình yêu của Thiên Chúa, nhưng cả những yếu đuối nhân bản. Nếu mẹ thường khuyến dụ các nữ tu hãy khắc phục những tưởng tượng tiêu cực là để vun trồng và muốn vun trồng cả nơi những người khác nét đơn sơ của cõi lòng.

Ai đơn sơ trong cõi lòng và trong ánh nhìn thì người ấy nhìn mọi người trong hữu thể đích thực của họ. Qua cái vỏ bọc của các khuyết điểm tâm lý, mẹ biết nhìn rõ trong sâu thẳm của linh hồn, nơi mà mỗi người đều có ước muốn thiện hảo.

Sự đơn sơ của cõi lòng được nhận thấy nơi Maria cả do sự kiện mẹ chỉ tìm một điều duy nhất: yêu mến Chúa Giêsu, cảm hưởng tình yêu của Ngài và làm cho những ai được ủy thác cho mẹ được hạnh phúc”10.

Sự trong suốt của Thiên Chúa vốn là sự thật và lòng xót thương

Maria Domenica đã để cho ánh sáng của Thiên Chúa thấm nhập và vì vậy mẹ đã đạt được sự thật trọn vẹn trên chính mình và đã rộng mở cho cuộc gặp gỡ thâm sâu với những người khác. Đây là điều kiện để là bạn đồng hành đích thực với trái tim của người mẹ. “Nếu chúng ta đi trong ánh sáng, như Ngài ở trong ánh sáng thì chúng ta ở trong hiệp thông với nhau” (1 Ga 1,7)

Nhận ra ân sủng hằng hoạt động nơi mẹ và nơi các chị em, nhưng cả những giới hạn, sự mỏng dòn và mẹ gọi nó với chính danh xưng của nó: ngay từ niên thiếu, mẹ biết mình là kiêu hãnh, làm dáng, tham ăn, không thích những kinh nguyện dài, gặp khó khăn đi xưng tội. Là Bề trên rồi mẹ nhận ra: có nhiều tự ái “lúc nào cũng vấp phải và té ngã như một tên say xỉn” (L 9,9).

Sự kiêu hãnh có nguy cơ thỏa hiệp với tất cả: biến sự thẳng thắn thành ngạo mạn, sự khôn ngoan thành thiếu bao dung, can đảm thành tính bướng bỉnh, ảnh hưởng vốn thể hiện ý muốn thống trị những người khác.

Thành quả của sự biến đổi mà ân sủng hoạt động nơi mẹ không phải là không có sự hưởng ứng ngoan cường của mẹ, nhưng là một sự đơn giản hóa tuyệt vời hữu thể của mẹ: nơi mẹ chúng ta không thấy những quanh co, biến chứng cảm xúc, những dày vò nội tâm, thế hai mặt. Đó là sự thẳng thắn và chân thành không chỉ trong những ngôn từ mà là trong cuộc sống: "Có, có, không, không!".

Có một sự trong suốt triệt để trong hữu thể của mẹ vốn thoáng thấy như trên bức phông của một dòng suối trong veo, nguyên nhân sâu xa niềm vui của mẹ, sự bình an, sự tự do nội tâm của mẹ là: tình yêu.

Mẹ cảm thấy được lòng thương xót của Chúa Cha bao trùm, ôm trọn và thế là mẹ cảm thấy sự nhỏ bé và cái nghèo của mình, nhưng điều này không ức chế mẹ: mẹ biết rằng Thiên Chúa đi qua trong cái nghèo và không một hạn chế, không một tội lỗi nào có thể là sự cản trở để thực hiện nơi chúng ta kế hoạch của Thiên Chúa, còn hơn nữa “quyền năng của Thiên Chúa được biểu hiện trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9)

«Thiên Chúa đã yêu say sự nhỏ bé của chúng ta, sự nhưng không của chúng ta và lòng xót thương của Ngài thì vô tận»11.

Tin tưởng vào lòng xót thương thiên linh, Maria Domenica dõi theo một hành trình của sự hiệp thông sâu xa với Chúa Giêsu và mỗi tuần đều cử hành và trải nghiệm sự thứ tha của Chúa Cha xuyên qua Bí tích Hòa giải.

Đối với mẹ, cử hành sự Hòa giải là một lời mời gọi sống trong sự thật và ở lại trong bầu khí của sự hòa giải và của sự hiến dâng vô lường, nhờ thứ thuận lý đơn giản mà theo hồng ân đã lãnh nhận muốn hồng ân được chuyển trao cho những người khác. Chúa Giêsu đã nhắc lại với chúng ta: “Anh em hãy học nơi tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

Sự đón nhận lòng thương xót nơi Bí tích Hòa giải là nguồn mạch của sự biến đổi thiết thực: nó giáo dục để ta lấy đi khỏi những mặt nạ, để được thẳng thắn và chân thành, để dõi theo một con đường của sự khiêm tốn trong một "tìm kiếm liên tục hướng tới tình yêu” (HL, k. 53).

Ai làm kinh nghiệm được canh tân cách liên tục về sự tha thứ và về lòng xót thương của Chúa Cha thì sẵn sàng với một cõi lòng xót thương để tiếp nhận những người khác, với sự tha thứ, với lòng nhân ái trong những phán đoán, với sự nhưng không, sự tế nhị của tình yêu.

Có một nhu cầu mạnh về sự trong suốt và tính đích thực đã xuyên qua đời sống của Maria Domenica. Mẹ công nhận mình là người bất xứng hơn cả, người có nhu cầu hơn cả (đc T 55,6), người ở chỗ rốt bét trong cộng đoàn là thoải mái. Những nết xấu của mẹ sẽ là một danh sách dài vô tận. Mẹ thừa nhận là có nhiều lòng tự ái để thường thắng nó: "Tôi có nhiều, nhiều đến độ tôi vấp ngã xuống mặt đất giống như một người say xỉn» (L 9,9).

Lý tưởng “làm cho mình nên dễ thương với Chúa Giêsu” (L 43,2) đưa một cuộc hành trình đòi hỏi sự thanh tẩy để diệt trừ cỏ dại ở trong cuộc sống hàng ngày, để đừng làm hòa với những khuyết điểm của mình và đồng thời để mở ra cho lòng nhân ái và sự cảm thông đối với những người khác. Điều này trải rộng con tim và khai thác trong đó khả năng của lòng thương xót, của niềm tin tưởng và niềm hy vọng.

Chúa Giêsu thao luyện chúng ta để khám phá ra kho tàng quí báu của sự tha thứ lẫn nhau khiến chúng ta nên giống Chúa Cha, một Thiên Chúa vĩ đại trong tình yêu hằng tha thứ. Việc thực hành sự thứ tha giúp cộng đoàn thiết lập như cộng đoàn kitô và cũng giúp xã hội ít bạo lực và chống đối. Nó giáo dục chúng ta để đan dệt những sợi chỉ mà ta đã làm đứt và để chữa lành ngay những vết thương trước khi mặt trời xế bóng12.

Maria Domenica giải phóng mình khỏi sự tìm kiếm được nổi nang hay được uy tín nơi những người khác, mẹ cởi bỏ chính mình, với tầm nhìn đơn sơ và sâu sắc mẹ có khả năng tiếp thâu vượt trổi sự ngoại diện những gì là sự thật hay giả dối nơi bản thân và nơi những người khác. Mẹ biết nhận thức mức độ thánh thiện ẩn mình dưới một ngoại diện khiếm khuyết; độ nhân đức ẩn dấu dưới những hình dạng đơn sơ và cũng mộc mạc.

Cặp mắt của mẹ thẩm thấu và ngời sáng bởi sự khôn ngoan vốn là ánh sáng khiến cho mẹ nên rất lão luyện trong nhận ra những gì là tự hào, sự tìm kiếm vênh vang chính mình được núp dưới cái vẻ của kinh nguyện và hãm mình; mức độ hời hợt nấp sau một sự dễ dàng phấn khởi!

Tình yêu đối với sự thật đã giúp mẹ đạt tới một bình diện phân định khiến cho chính Don Bosco và các Cha giám đốc SDB phải ngỡ ngàng. Khi sr. Maria Mazzarello từ trần, ngày 14 tháng 5 năm 1881, nhật báo L'Unità Cattolica báo tin về cái chết của Bề trên Tổng quyền đầu tiên của FMA với những từ đơn giản, nhưng thích đáng. Tác giả của lời giới thiệu ngắn (chính vị linh hướng don Giovanni Battista Lemoyne) xác định mẹ thế này: “Mẹ đã là người phụ nữ được trang bị với những tặng ân đặc biệt trong sự chỉ đạo các linh hồn, vì vậy trong một thời gian ngắn mẹ đã biết cung cấp sự phát triển cho Hội Dòng mới ấy, mà chính Đấng Sáng Lập của Hội Dòng phải kinh ngạc”13.

Sự tự do của tình yêu: thế quân bình giữa lòng thương xót và sự thật

Khuôn mẫu của mẹ Mazzarello như một nữ tu cứng nhắc, tỉ mỉ trong tuân giữ, luôn hãm dẹp trong mọi sự, kiềm chế tất cả các giờ giấc đã nhường chỗ cho một người phụ nữ tự do trong tình yêu, thứ tự do của Thần Khí vốn nở rộ trong trái tim ngoan thuần với tác động của Ngài. Đó là sự thật khiến cho mẹ được tự do (cf Ga 8,32).

Ngay cả trong việc tuân giữ Hiến Luật, Mẹ Mazzarello cũng tỏ ra khắt khe: tiêu chí mẹ chuyển động luôn là tiêu chí của tình yêu, và như thế mẹ tìm kiếm những gì mưu ích cho nhân vị, cho sức khỏe, cho niềm vui của họ.

Mặt khác, mẹ rất tế nhị trong trung thành với việc tuân giữ chính đời sống tu trì và chọn giây phút thuận tiện để dõi theo với sự thanh thản và gần như tự nhiên, cách tự hãm mình và chính những sở thích của mình.

Chúng ta quan sát mẹ ở một khoảng cách gần bao có thể kèm theo một số kinh nghiệm:

Trong chuyến hành trình với sr. Giuseppina Pacotto. Mẹ đang trong cuộc hành trình và cảm thấy kiệt sức, mẹ “giải quyết là đến gần một gian hàng để được bình tĩnh một chút rồi mua ít trái cây. Sr. Pacotto đi cùng và nói với mẹ như với các sơ: mẹ nghỉ một chút đi.... Còn mẹ: “Kệ! thay vì tốt thì lại tệ hơn ấy!”. Mẹ trả tiền xong, sau đó lặng lẽ dùng chút xế khiêm tốn, rồi tiếp tục»14.

Những hệ lụy hay những hiệu quả của sự tự do nội tâm này là – Thánh Phan-xi-cô di Sales nhận định – sự êm ái, dịu dàng, sự nhượng bộ thực sự cho tất cả những gì không phải là tội. Sự tự do này thì đối nghịch với sự tùy tiện, sự cưỡng bức, sự cứng ngắc, sự tỉ mỉ, sự hãi sợ. Một sự tự do chuyển động để hành xử vì yêu và trong tình yêu15.

Với một tân giám đốc. Mẹ Mazzarello viết cho chị giám đốc ở Turin, sr. Pierina Marazzi ngày 31.03.1880. Đây là một lá thơ độc đáo viết tay 4 trang và đề địa chỉ một cách tự nhiên (do đó không phải như một hồi âm cho một lá thư) cho người mới được bổ nhiệm giám đốc của một cộng đoàn. Chị được 33 tuổi và biết làm ba nghề. Nhà ở Torino đã mở 4 năm trước và đã có khoảng hai mươi sơ16.

Mẹ Mazzarello để lại cho chị những lời khuyên liên quan đến chức vụ mới. Những gợi ý liên quan đến những quan hệ của giám đốc với các sơ, giữa các sơ với nhau và với các SDB, nhất là với các Cha Bề trên. Câu mà tôi muốn nhấn mạnh liên quan đến những quan hệ cộng đoàn: «Chị em đừng bao giờ bỏ qua thiện ích vì tính vị nể, chị hãy luôn cảnh báo và thông cảm những khiếm khuyết của các chị em mình. Chị hãy tự do làm tất cả những gì mà đức ái đòi hỏi» (L 35,3).

Nếu chúng ta đặt cụm từ trong chỉ định thì ta khám phá ra cõi lòng của mẹ Mazzarello, nó định nghĩa mẹ trong đặc nét mẫu tử sâu sắc hơn cả của mẹ: “Con hãy tự do làm tất cả những gì mà đức ái đòi hỏi”. Thực ra, mẹ để cho sự tự do của một người mẹ chuyển động và như thế là tình yêu của mẹ nhịp lên lòng thương xót và đồng thời của sự khôn sáng trong định hướng, đồng hành, hướng dẫn với những nguyên tắc rõ ràng.

Những lời này âm vang các lời của thánh Agostino «Cứ yêu rồi hãy làm những gì bạn muốn» và những lời của thánh Phan-xi-cô di Sales «Một tinh thần tự do thì làm tất cả vì đức ái»17.

Don Lemoyne, vị linh hướng của mẹ trong sáu năm, người đã biết mẹ trong độ sâu, viết về mẹ: «Trong số các cảnh báo liên tục được lặp lại đã là những điều này: đừng tường trình hằng ngày – đừng làm quen với tinh thần nô lệ - Hãy để cho sự tự do thánh mà Thánh Phan-xi-cô di Sales mong muốn».

Sự chú ý mẫu tử mà không bối rối

Tình mẫu tử giúp chọn sự thiện thích hợp cho từng người, để hiểu các tình huống, để cung ứng với con tim vĩ đại. Mẹ thực sự tự do trong tình yêu khi bàn tới việc đi gặp vài sơ trẻ có sức khỏe yếu hơn. Đó là sr. Pacotto. Sự kiện xảy ra năm 1880. Cái nóng đã thực sự làm sơ mệt mỏi và suy yếu lắm. Mẹ đã cho phép sơ dùng những lương thực cần thiết, thậm chí cả bữa xế, nhưng vẫn không đủ. Hồi sử ghi nhận rằng sr. Pacotto, bị kiệt sức, sơ đã thức dậy vào khoảng 11 và 12 giờ đêm và đã không thể ngủ lại được cho tới sáng. Sơ đã thưa với Mẹ và trình bày một cách có vẻ bi quan: “Phải chăng là một cám dỗ của ma quỉ?”. Mẹ nhìn sơ với lòng nhân ái và trả lời sơ: “Đêm hôm nay, khi em thức dậy, em đi xuống bếp: em sẽ thấy những gì giúp ích cho em và em hãy an tâm dùng nó”. “Nhưng hiệp lễ thì sao?”. “Việc này để mẹ lo cho!”

Vào lúc 11 giờ đêm, sơ tập sinh Lucia Garino, người giúp sơ y tá - đi vào phòng ngủ với một cái đèn chai, một ly sữa và một lát bánh và nói: “Mẹ Bề trên ước muốn chị dùng tất cả!”. Đức Ái mẫu tử ấy kéo dài cho tới khi sự mệt lử gây khó chịu của sr. Pacotto biến mất18.

Được lòng thương xót ôm ấp trở thành dấu chỉ của lòng xót thương

Maria Domenica sinh động, lãnh đạo và đồng hành trong một cung cách của sự thật trên chính mình và trên những điểm yếu của mẹ, nhưng trong niềm xác tín là được lòng xót thương của Chúa Cha bao trùm và như thế là được mời gọi để làm cho các chị em, cho những người trẻ. Chính các vị giám đốc SDB nhận thức được lòng xót thương này.

Don Costamagna viết hôm 4.7.1881 cho mẹ Caterina Daghero về cái chết của mẹ Mazzarello: «Tôi đã có ba người mẹ rất thân mến... tôi đã tìm ra cả một người mẹ khác trên trần gian này để bảo vệ tôi và đó là Mẹ Mazzarello! Ah, linh hồn ấy đã yêu Thiên Chúa của tôi như thế nào! Nhưng tôi không còn nữa, người mẹ này cũng như người mẹ kia»19.

Trong ngôi nhà được mệnh danh là “nhà của tình yêu Thiên Chúa”, các chị em đã thực sự cảm nghiệm tình yêu này xuyên qua những nghĩa cử cụ thể: «Khi em vào Hội Dòng, em đã có ấn tượng là đi vào trong một gia đình, nơi mà trong công việc và trong kinh nguyện được tiến thẳng, thẳng tới Trời»20.

«Đối với chúng tôi và với từng người Mẹ đã là một người mẹ đích thực và tôi không biết phải nói sao, ngài là mẹ vừa trìu mến vừa mạnh mẽ tùy theo những cảnh huống khác nhau»21. «Mẹ đã tìm hiểu tính khí của từng người với trí tuệ của tình yêu, mẹ đã trực cảm các nhu cầu và những năng khiếu... trong khi mẹ đã dịu dàng và âu yếm, dễ nhân ái và cảm thông, thì mẹ cũng đã thẳng thắn và cương quyết khi cần phải sửa dạy một thiếu sót, một vi phạm, bất cứ một điều xấu nào nơi bất cứ ai. Mẹ đã thường lặp lại: “Ta đừng kỳ vọng những người con không có khuyết điểm, nhưng ta đừng muốn họ làm hòa với nó …”»22.

«Tôi đặc biệt nhớ cách thế mẹ sử dụng sự chăm chú hơn trong thăm dò tính cách của mỗi chị em, rồi khi biết mẹ lưu giữ như trong một nấm mộ những thiếu sót và những khuyết điểm đã biểu lộ nơi họ. Ngoài ra, tôi còn nhớ, như thể khi đối xử với một sơ cách rộng lượng và thân thiện, nhân ái hơn thì ai cũng tưởng là ‘ấm’ của mẹ, trong khi đó lại không có bóng dáng gì về sự thương riêng một ai»23.

Một trong những phẩm chất hệ trọng hơn cả vốn mở lòng ra cho cả những tính khí khó hơn là sự đón tiếp. Ai cảm thấy được đón nhận với niềm tin tưởng chứ không bị phê phán thì sẵn sàng để hợp tác và đặt mình để phục vụ vì lợi ích của cộng đoàn.

Nơi mỗi nhân vị đều khám phá ra - như Simone Weil nói – cái «kho vàng ròng» để đánh giá24, và nhận thức sự sinh động như tìm ra con đường để nêu rõ nó. Ánh nhìn của Maria Mazzarello là một ánh nhìn "bình ổn", ý thức về giá trị của mỗi nhân vị và sẵn sàng để đón nhận tiềm năng và tài năng, để góp phần đẩy lui các giới hạn và điểm yếu.

Khả năng này chỉ đạo mẹ để hướng dẫn thực hiện nghiêm túc những người mà mẹ gặp, hầu mở ra cho những người với cung cách ngỡ ngàng và biết ơn, để muốn mỗi người hãy là chính mình và rút ra từ bản thân phần khả quan hơn.

Tuy nhiên, đừng ảo tưởng. Trong thực tế, vốn chôn sâu những gốc rễ vào nền văn hóa thôn quê và trong một linh đạo tu đức mạnh, mẹ nhận thấy nơi mình và nơi những người khác những thứ "cỏ lùng" không ngừng xuất hiện trong thửa vườn của cõi lòng: sự huênh hoang, sự hai mặt, nỗi u sầu, ghen tuông, nịnh hót, hời hợt.

Những dẫn nhập của việc sinh động cộng đoàn là đây, trong sự khắc phục cám dỗ của một sự hoàn hảo giả tạo, thứ hoàn hảo không để ý tới sự mỏng dòn của các nhân vị. Mẹ Mazzarello biết, hiểu ra và kiên nhẫn để cả mẹ cũng đấu tranh cách mãnh liệt với chính mình và với cái tôi của mẹ (đc T 9,9).

Mẹ giữ cho sống động nhận thức về thực tại những giới hạn của mình, nhưng đồng thời những sự kỳ diệu mà Thiên Chúa hoạt động nơi mẹ, mẹ vun trồng một cung cách liên tục của sự khiêm tốn và một cách tự nhiên mẹ có ánh nhìn thân thiện và nhân từ đối với những người khác25.

Mẹ sống trong logic của vượt qua và mẹ biết rằng ý Chúa luôn được diễn tả qua trung gian và thông tri cho mọi người trên nền tảng của nguyên lý của sự nhập thể và không tránh khỏi giới hạn nhân loại.

Sự chọn lựa này nổi bật cách hiển nhiên khi nghĩ tới bài huấn từ cộng đoàn đầu tiên của mẹ Mazzarello cho cộng đoàn tại Mornese: «Từ 15 tháng 9 [1872], chủ nhật thứ nhất, sau khi Đức Giám Mục rời Mornese, mẹ đã bắt đầu thực hành khoản Hiến Luật về huấn từ hàng tuần cho cộng đoàn. Vì thế, mẹ đã tự giới thiệu với sự khiêm nhường thường tình của mẹ khi nói rằng không phải chỉ có mẹ, người phụ tá tội nghiệp phải xúc tiến nề nếp nhà theo Hiến Luật và những mong muốn của Don Bosco, nhưng là mỗi chị em phải và có thể giúp đỡ và tư vấn mẹ; và vì vậy mỗi người đã phải và có thể biểu lộ những quan điểm và ý kiến của mình, ngõ hầu mọi sự có thể tiến hành cách tốt đẹp bao có thể dưới mọi khía cạnh.

Từ một nguyên lý của sự tự do huynh đệ và thảo hiếu rộng mở của cõi lòng ấy, thì đương nhiên là mỗi chị em biểu tỏ điều mà họ cảm thấy nơi mình hay chung quanh mình»26.

Không một ai nghèo đến độ không có gì để trao ban cho cộng đoàn và không ai giàu tới mức không có gì để lãnh nhận từ nơi những người khác. Bằng cách đó thiết lập “ngôi nhà phúc âm hóa”.

Những biểu hiệu của lòng thương xót khiến nhận thức cách rõ ràng tình yêu của Chúa Cha là những nghĩa cử đột xuất của sự nhưng không do trực cảm của con tim vốn để lại một cảm thức thật ngỡ ngàng.

Sứ điệp của một tấm hình (chuyến đi truyền giáo thứ hai)

Đó là một tấm hình ghi nhận một nghĩa cử yêu thương và của lòng xót thương; nó nói với chúng ta về trí tưởng tượng đức ái của mẹ Mazzarello.

Trong Giáo Hội, sự thánh thiện là công cuộc của Chúa Thánh Thần vốn là sự mới mẻ mãi mãi, vì là tình yêu. Như thế, sự thánh thiện luôn là cái gì còn tiềm ẩn và không bao giờ tưởng tượng được. Vị thánh không nói gì khác ngoài những gì Tin mừng đã nói, nhưng ngài nói trong một cách thức hoàn toàn mới mẻ, hoàn toàn phù hợp với thời đại trong đó ngài sống và nó trở thành ngôn sứ cho tương lai.

Những nghĩa cử của mẹ tiếp tục nói cho tất cả mọi thời đại trong lịch sử.

Tấm hình của chuyến đi truyền giáo thứ hai: chúng ta ở Mornese: ngày 29.12.1878.

Hồi sử qui về năm mà không có một vị truyền giáo nào đã có thể đi đến Roma để gặp Đức Thánh Cha vì “tài chánh eo hẹp”.

Từ Mornese chỉ những chị em nào còn chưa biết đền thờ Đức Maria Phù Hộ tại Valdocco hay chị em nào có bà con quanh đó mới đến Torino với don Cagliero»27.

Ngày 30 tháng 12, họ đã khởi hành từ Mornese, được mẹ Mazzarello và mẹ Petronilla đồng hành 10 vị truyền giáo được gửi đến Uruguay và Argentina. Đi bộ từ Mornese tới Serravalle, rồi đi xe lửa tới Genova.

Cùng đi với nhóm có cả một thử sinh Giacinta Borgna, là em của sr. Emilia cũng ở trong chuyến đi truyền giáo này và của sr. Giovanna đã ở Uruguay rồi.

Tại sao lại có thử sinh? Vì khi chụp hình theo nhóm thì có cả hai chị em và như thế là bà Borgna, đã di cư từ Piemonte đến sống tại Argentina có thể nhìn thấy cả hai cô con gái!28

Tình yêu thì sáng tạo, gây kinh ngạc bằng những nghĩa cử của lòng nhân ái mà chỉ một người mẹ biết được hoàn cảnh và làm cho nó nên có thể.

Maria Domenica Mazzarello ý thức được lòng xót thương của Chúa Cha ôm ấp và trong suốt cuộc sống của mình, mẹ đã tìm cách để làm sáng lên một số đặc điểm trên khuôn mặt nhân từ của mẹ: luôn cảm thông, đồng hành, nâng đỡ dịu dàng.

Yêu với con tim xót thương là luôn trao ban niềm vui, tạo ngỡ ngàng cho các chị em bằng những nghĩa cử của sự nhưng không và lòng nhân ái. Chỉ với con tim của một người mẹ mới có thể làm cho có thể. Lời gợi nhắc của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Hô-sê nằm trong đường nét này: “Ta muốn tình yêu chứ không hy lễ” (Os. 6,6).

Luật sống của các môn đệ Đức Giêsu là luật vốn tiên kiến “tính ưu việt của lòng thương xót” Đức Thánh Cha ghi nhận đó là một thách đố thực sự đối với người chỉ dừng lại ở hình thức của luật lệ29. Tình yêu biết mặc cho nó bằng sự trìu mến và như thế là luôn mới mẻ, ngạc nhiên, sáng tạo.

Niềm can đảm của sự thật dẫu những phê phán

Sr. Maria Domenica thì rộng mở và tự do trong kiếm tìm lợi ích cho những người khác, thế mà hầu như mẹ dứt khoát trong đòi hỏi sự trung thành với tinh thần Salêdiêng, với phong cách sống của chúng ta vốn không cho phép những chọn lựa không thích hợp. Mẹ biết thách thức cả những phê phán của Cha xứ ở Cascinette đã cho mẹ là quá nghiêm khắc, nhưng mẹ không nhượng bộ. Hồi Sử ghi nhận sự kiện thế này: «Trong những dịp lễ lớn, cha xứ muốn các sơ ra nhà xứ để chuẩn bị các dạ tiệc và đôi khi dùng bữa tại đó, v.v.... Nhưng mẹ không chịu: mẹ đã trả lời là không nên, vì các sơ của chúng con không được dành cho những việc này… Những đề nghị của ngài có thể gây nên những lạm dụng và những lạm dụng lại trở nên khó bãi bỏ sau này»30.

Sự tự do của tình yêu không dõi theo con đường của sự tùy tiện, nhưng của lòng trung thành với mọi giá đã chọn. Đôi khi, tự do và sự thật đồng nghĩa với sự nghiêm khắc và sự từ khước triệt để chính mình.

Ta còn tìm thấy nơi Hồi sử: Dịp lễ kính thánh Giuse, họ đã mời mẹ ly rượu, vì họ thấy mẹ xuống sức, và mẹ: «Không nên, chúng ta nên nêu những gương sáng này, vả lại chúng ta đang trong tuần thánh! Xin cảm ơn, mẹ có thể không dùng nó!»31.

Sr. Giacinta Morzoni kể rằng một hôm «Mẹ đi vào bếp trong khi các chị em đang nấu bột bắp và mẹ đã nếm một chút trên đầu đũa, nhưng tức khắc mẹ cảm thấy ân hận và tìm cách đền bù. Mẹ đợi khi tất cả cộng đoàn hiện diện trong phòng cơm và trước khi bắt đầu đọc kinh ăn cơm, mẹ giơ cái đũa lên và nói: “Các chị em có biết mẹ đã hãm mình thế nào không?... Mẹ đã không biết chờ tới giây phút này và tại nhà bếp mẹ đã dùng một chút bột ngô ở đầu đũa đây. Vì lòng bác ái, xin các chị em thân mến cầu nguyện cho mẹ”»32.

Ở đây còn là sự tự do, một sự tự do bén sâu trên sự phân định sáng suốt và trên lương tâm thật tế nhị, nó liên tục gắn liền với sự cảnh tỉnh và sự hãm mình, không chút nhượng bộ cho duy phép tắc. Nếu không cảnh tỉnh thì con tim dễ bị chi phối, tính tầm thường, sự lỏng lẻo sẽ dễ len lỏi vào. Thánh Phan-xi-cô di Sales nhận định rằng thế là con tim trở thành như « một vườn trái mở ra tứ phía, và trái cây không dành cho chủ vườn, nhưng cho tất cả những người qua lại»33.

Mẹ Mazzarello nhắc nhớ các sơ trong một bài huấn từ: «Mẹ e rằng đời sống tiện nghi làm suy yếu lòng sốt sắng»34.

Sự tự do bất đồng quan điểm - Thơ 15 - gửi cho don Cagliero, Mornese, 27.09.1878

Kỳ đó Don Cagliero đang ở Torino. Ngài đã trở về từ Châu Mỹ để tham dự TTN I. Ngài sẽ ở lại Ý tới năm 1884 khi ngài được bổ nhiệm làm Đại sứ Tòa Thánh của Patagonia.

Mẹ Mazzarello tỏ ra không đồng ý về hai quyết định mà don Cagliero đã đảm nhận liên quan tới việc di chuyển của một sơ và về việc thanh toán các khoản phí của học sinh nội trú.

Tới một điểm nào đó mẹ Mazzarello viết: «Xin Cha tha cho con nếu con thưa điều này, con thưa như với một người Cha... » (L 15,4)

Sr. Teresa Laurantoni không nên đi tới Lu – như don Cagliero đã quyết định – vì sơ không quen biết về nhà trường. Quả vậy, sơ không có kỹ năng cũng không có kinh nghiệm; ngoài ra sơ yếu về tình cảm. Còn nữa, cũng không nên làm cho sơ thấy mình quá quan trọng. “Cha cứ tin đi, những người con còn trẻ sẽ hư nếu họ được coi là quan trọng; trái lại, nếu chúng ta đi từ từ, khoảng vài năm nữa ta sẽ có những chị em có thể trao trách nhiệm và gửi đi bất cứ nơi nào và với bất cứ ai”.

“Xin Cha tha cho con nếu con thưa điều này, con xin thưa như với một người Cha vì con cũng thấy trước là nếu sr. Teresa đi đến Lu, rồi sẽ mất không biết bao thời gian mới ổn định sơ được trong khi bây giờ sơ đã khá tốt” (T. 15,3-4).

Suy tư khôn sáng này của mẹ Mazzarello dựa trên sự hiểu biết cá nhân mà mẹ đã có về sơ và trên sự tiếp nối mà mẹ đã theo dõi trong đào luyện nhân bản và tu trì.

Mẹ cũng tỏ ra không đồng ý về sự kiện mà các em nội trú không trả chi phí như don Cagliero đã chỉ định. Không nên nhận hai em nội trú không trả phí nào: «Nếu chúng không trả phí, sẽ có một bất tiện khác, không thể cung cấp đủ quần áo cần thiết, vì thế, chúng không thể giữ sạch sẽ được, và cũng chẳng thể cung cấp cho chúng thức ăn mà lẽ ra phải cung cấp đủ cho chúng nếu như tất cả đều trả phí; và như thế chúng ta sẽ không bao giờ có các em nội trú thực sự.

Đây chỉ là một nhận xét của con, tuy nhiên, nếu Cha thấy việc nhận hai em ấy là tốt thì con vẫn hài lòng, nhưng con muốn biết ý của Cha».

Trường hợp nêu trên là của một gia đình khá giả về kinh tế, từ đây giải thích rõ ràng lý do mẹ Mazzarello đòi hỏi những gì đã thiết định trong qui luật. Công cuộc giáo dục phải đảm bảo từ một an toàn về kinh tế tối thiểu. Các gia đình của các em nội trú phải trả một chi phí hàng tháng.

Niềm can đảm về việc sửa bảo huynh đệ - Thơ 24 gửi cho sr. Giuseppina Pacotto (tháng 5, 1879)

Mẹ ngỏ cùng người chị em này (29 tuổi) bằng cách gọi chị: “sr. Giuseppina luôn quí yêu của mẹ”. Từ Nizza sơ đã trở về Mornese ngày 11.02.1879 để cùng cộng tác với mẹ Petronilla trong việc hộ trực thử sinh. Từ âm điệu của bức thư suy ra là chị Pacotto phải buồn, lo lắng về chức vụ mới là đào luyện và với khó khăn trong tương quan với mẹ Petronilla.

“và sr. Giuseppina, chị hãy cảm ơn vì mẹ ở xa chứ ở gần là mẹ sẽ kéo tai chị, chị có biết rằng sự buồn chán là nguyên nhân của nhiều sự không hay chứ? Để sống vui cần tiến tới với sự đơn sơ, không tìm kiếm những thỏa mãn nơi các tạo vật cũng như nơi các sự thể của thế gian này. Chị chỉ lo sao chu toàn tử tế bổn phận của mình vì yêu mến Chúa Giêsu chứ đừng nghĩ gì khác. Nếu chị khiêm tốn, chị sẽ tín thác nơi Ngài, Ngài sẽ làm mọi sự còn lại. Vậy, chị đừng đến mà khóc lóc sướt mướt với mẹ nữa, chị hãy biết là chị không còn phải ở thời thiếu nữ nữa, chị phải biết phán đoán và nêu gương sáng. Còn mẹ phụ tá, chắc chắn là ngài biết cảm thông chị, chị hãy hoàn toàn tin tưởng, hãy thưa với mẹ mọi sự và nếu có gì xem ra không ổn, không quan trọng, chị hãy khiêm tốn đón nhận, nó sẽ ích lợi cho linh hồn. Vậy chị hãy vui lên, can đảm lên, chị hãy giúp Mẹ phụ tá và giữa hai người hãy lan truyền nơi các thử sinh một tinh thần tốt và làm cho tất cả nên thánh.

Lòng xót thương và sự thật trong thơ gửi cho một cộng đoàn đang khủng hoảng

Lá Thơ thứ 49 gửi cho Cộng đoàn ở Saint Cyr-sur-Mer (tháng 10, 1880)

Mỗi lá thơ của thánh nữ Maria Domenica Mazzarello thì tựa như một “tấm gương soi của trái tim mẹ”, một cửa sổ được mở toang thế giới nội tâm và trên các cộng đoàn được mẹ chỉ đạo.

Trong lá thơ này (nguyên thủy, 4 trang) được nhận thấy với sự rõ ràng một phần về đời sống nguyên thủy và tính cụ thể của một phong cách sinh động và chỉ đạo. Dẫu lá thơ phải được hoàn bị bằng những nguồn mạch khác để có một bức khung đầy đủ về tình trạng, nó tạo nên một tài liệu không tranh luận về giá trị lịch sử, sư phạm và thiêng liêng. Không chỉ chuyển tải các tin tức và những dữ kiện đã ghi chú trong khi các sự kiện đã xảy ra, nhưng nó cho phép chúng ta gặp Maria Domenica, đi vào trong đối thoại với mẹ và nhận thức sự khôn sáng đào luyện mà mẹ diễn tả với phong cách của “Hệ thống dự phòng”.

Mẹ ngỏ lời với một cộng đoàn đang sống sự vất vả của việc chấp nhận bề trên mới vừa được gửi đến. Để giúp các chị em khắc phục được tình trạng bất ổn do sự thay đổi bề trên và để mở lòng ra cho sự vâng phục trong đức tin, mẹ gọi Bề trên trước đây - sr. Caterina Daghero rất được các chị em quí mến về ở lại Saint Cyr một tháng.

Kết thúc một tháng, mẹ gửi cho họ lá thơ này và ngỏ với họ như: “Các nữ tu và những người con rất thân mến”.

* Cộng đoàn mà Mẹ ngỏ lời là cộng đoàn ở Saint Cyr-sur-Mer (Pháp), mở ngày 4.04.1880. Các FMA đã điều hành một Viện Mồ Côi nữ gắn liền với trường nông nghiệp, do Cha Jacques Vincent và 5 vị Dòng Ba do chính ngài lập và ngài đã thành lập Viện Mồ Côi này35. Năm 1878 hai trong các “nữ tu” đã muốn liên kết với Hội Dòng FMA, như ta thấy trong một lá thơ của don Bosco gửi cho Cha giám đốc SDB, don Ronchail ngày 15.08.1878. Don Bosco hồi âm là sẵn sàng đón nhận nhưng ngài xác định: “Con xin họ có thể tới Mornese sống ít nhất là một thời gian”36. Nhưng không biết kết quả họ có đi không.

* Nhà đã rất nghèo và Hồi Sử ghi nhận: «Các FMA đã được đón tiếp rất chu đáo, nhất là Đức Bà Khó nghèo»37. Sr. Caterina Daghero, Bề trên nhà đã phải đi quyên tiền để có thể nâng đỡ cộng đoàn, ít nội trú và thử sinh. Các sơ đã báo cáo: «Một hôm, cha Prefetto Nhà Salesiana ở La Navarre đến thăm; sau khi đã trao đổi chuyện trò, nghĩ là ngài dừng lại để dùng cơm trưa! Nhưng thật là đại lễ, vì ngài đã ra về...! Vì thực sự sẽ không có gì để mời ngài...»38.

* Các sơ đã là 5, tất cả đều khá trẻ về tuổi tác và về năm khấn:

Suor Maria Sampietro 26 tuổi (1 năm khấn)

Suor Caterina Pestarino 34 tuổi (1 năm khấn )

Suor Marianna Lorenzale 20 tuổi (1 năm khấn )

Suor Alessandrina Hughes 21 tuổi (ít tháng khấn)

Suor Santina Piscioli (Tân Bề trên) 26 tuổi (3 năm khấn)

* Sr. Caterina Daghero, Bề trên trước đây, vào tháng 8 đã được bầu là Phó Bề Trên Tổng Quyền và vì vậy đã phải rời bỏ cộng đoàn. Các sơ đã gặp nhiều khó khăn đón nhận sr. Santina. Mẹ, gửi cho họ lá thơ này, tìm cách giúp họ nhận định kinh nghiệm này như cơ hội để trưởng thành.

Những khía cạnh của “Hệ thống dự phòng” với sự trong suốt

Mẹ không bi thảm hóa, không đổ lỗi cho ai, nhưng tìm cách đối diện sự kiện với tình mẫu tử quân bình. Mẹ nhận định tình huống với cái nhìn khách quan và tính thiết thực. Lý giải mà mẹ sử dụng là sự khôn sáng và sự trân trọng nhân vị, bởi lẽ nó biểu lộ sự thuận lợi hơn cả cho sự thăng tiến của họ. Mẹ gửi sr. Daghero trở lại Saint Cyr khoảng 1 tháng và đích thân mẹ can thiệp về sự bất ổn của cộng đoàn, mẹ cảm hưởng sự tin tưởng của các sơ trẻ và mẹ giúp các chị em đón nhận vị tân giám đốc.

Sau một thời gian mẹ ngỏ lời với cộng đoàn và mẹ kêu mời họ với âm điệu tôn trọng muốn “giữ” sơ phụ tá của mẹ ở Nizza. Với sự dè dặt và khôn ngoan mẹ bắt đầu viết: «Mẹ cần chị giúp mẹ một điều...». Không phải là những âm điệu cứng cỏi, cũng không cố chấp trong đánh giá một sự kiện chắc hẳn không xây dựng trong thời kỳ khởi đầu!...

Mẹ nại tới các nguyên nhân thuộc lý trí, tình cảm và đức tin để hướng các sơ trẻ đến việc đón nhận, hoà nhập cộng đoàn và sứ mạng chung, nó cần phải đoàn kết và nhất trí.

* Các nguyên nhân của lý trí. Mẹ kêu mời hãy suy tư và khắc phục những ấn tượng ban đầu thường dễ đưa tới sự bóp méo thực tại. Quả vậy, sự tưởng tượng «đôi lần... cho ta thấy những sự thể đen thật đen, trong khi nó hoàn toàn trắng».

Mẹ động viên các chị em hãy khách quan và tự hỏi tại sao về thái độ của họ: «Tại sao lại không muốn tín thác nơi chị tân giám đốc?».

Ngoài ra mẹ còn giúp họ cân nhắc những hệ lụy các hành động của họ: «Rồi điều gì sẽ xảy ra?».

Mẹ còn viết tiếp rằng «đó tất cả chỉ là những chuyện mà đôi khi ta đặt nó vào đầu».

* Những nguyên nhân của trái tim. Mẹ đề cao tình cảm và sự tín nhiệm vốn liên kết mỗi sơ với mẹ đã được mẹ tiếp nhận vào Hội Dòng, mẹ đích thân biết họ, mẹ theo dõi họ trong đào luyện, mẹ đã nhận các lời khấn của họ.

Thấy mẹ cảm hưởng từ nơi những người con đã đem lại cho mẹ sự vỗ về và niềm an ủi: «Các chị em thân mến của mẹ, các chị em hãy sớm cho mẹ niềm an ủi này, là các chị em hãy yêu thương nhau với đức ái thực sự, các chị em hãy quí mến chị giám đốc của chị em ...».

Mẹ kêu mời các chị em hãy yêu thương nhau xây trên sự khiêm tốn, nhưng trên cả sự tin tưởng của mình nơi giám đốc mà mẹ tỏ ra là biết rõ và quí chuộng ngài. Sự đón nhận mà các chị em dành cho sơ giám đốc sẽ được mẹ nhận định như cho chính bản thân mẹ: «Mẹ biết là các chị em thương chị giám đốc của chị em trong Thiên Chúa, các chị em hãy nói với chị ấy tất cả những gì mà chị em nói với mẹ đang ở đấy, điều này sẽ là niềm an ủi lớn mà chị em có thể cống hiến cho mẹ».

Rồi mẹ gọi tên từng sơ một: Sơ... Sơ... gần như muốn cá vị hóa lá thơ đã gửi cho cộng đoàn.

Trung thành với sư phạm của từng người, mẹ gợi nhắc trách nhiệm cá nhân bằng cách nhắc nhớ những bổn phận đã lãnh nhận, những lời khấn «mà các chị em đã thực hiện với nhiều ước muốn», bổn phận, thay vì “sự bó buộc” chứng từ về tình cảm hỗ tương giữa các sơ và các em nội trú. Và về phần cuối, lời hứa mẫu tử dành cho những người con nỗ lực đem lại cho mẹ sự vỗ về:

«Vậy chúng ta cùng đồng ý nhé, nếu các chị em cho mẹ niềm an ủi đó, mẹ sẽ sớm tới thăm các chị em và sẽ ở lại với các chị em thời gian lâu hơn, các chị em có bằng lòng không? Các chị em hãy sớm gửi các tin tức tốt lành cho mẹ, chị em hãy nhớ là mẹ ao ước các chị em luôn vui, thật khốn nếu chị em mơ tưởng hão huyền».

* Những nguyên nhân của đức tin. Sau khi đã kêu gọi những lý do hợp lý, hợp tình, mẹ hướng cao hơn, nơi có được những ý nghĩa thực sự của việc chung sống, ý nghĩa đích thực của Tin Mừng.

Nguyên nhân mang tính Thánh Mẫu được gợi nhắc trong số những nguyên nhân đầu tiên: «Các chị em hãy coi chị như Đức Mẹ và hãy đối xử với chị với tất cả sự trân trọng».

Ngoài ra, mẹ còn đề cao trên “đức ái đích thực” phải là tấm thảm thống nhất của cộng đoàn, phải là đối tượng của suy tư và của kiểm thảo, ngõ hầu có thể được thực hành: «Các sơ tốt lành của mẹ ơi, các chị em hãy nghĩ rằng ở nơi đâu đức ái ngự trị, ở đó là Thiên đàng».

Cung cách của đức ái là điều kiện để Chúa Giêsu thực sự hiện diện giữa chúng ta: «Chúa Giêsu rất thích ở giữa những người con khiêm hạ, vâng lời và sống đức ái. Các chị em hãy làm sao để Chúa Giêsu có thể ưa thích ở giữa các chị em».

Mẹ thiết lập một mối ràng buộc chặt chẽ giữa đức ái và sự hiện diện của Chúa Giêsu. Đức Ái cho phép Ngài ở giữa chúng ta, và quả thật là sự hiện diện của Ngài mở lòng ra cho đức ái đối với tất cả: «Một người con thật sự yêu mến Chúa Giêsu thì hòa hợp với tất cả mọi người».

Mẹ dẫn các chị em tới các nguyên nhân sâu xa hơn cả của hành động và mẹ giáo dục các chị em cho sự ngay thẳng: sự thiện được thi hành không chỉ để làm hài lòng mẹ, nhưng vì sự nhất quán với ơn gọi của mình.

Phong cách quan hệ của người am hiểu với cõi lòng và làm cho lớn lên

• Maria D. Mazzarello đảm nhận tình huống với tính thực tế, không chút nao núng. Mẹ biết rằng cộng đoàn không hoàn hảo, nhưng mẹ không thất vọng... mẹ cống hiến sự tin tưởng, mẹ biết những người con của mẹ, vì còn non trẻ và thiếu kinh nghiệm và họ sẽ trưởng thành cho tới khi đạt được sự thánh thiện: «Xin Chúa Giêsu chúc lành cho tất cả các chị em và Ngài làm cho các chị em nên thánh». Dẫu giới hạn, Mẹ nhìn thấy trong hiện tại sự thiện sẽ có thể lớn lên và trưởng thành.

• Mẹ cống hiến một đề xuất đào luyện khởi đi từ kinh nghiệm, làm cho họ phát triển hiện tại theo hướng mục tiêu mới. Mẹ khởi đi từ điều mà họ có, bằng cách đối mặt với nó mà không cần lo lắng, để chỉ ra một con đường nên thánh, không có vấn đề từ thực tế, từ giới hạn, từ sự xung đột. Đây là những cản trở cho sự thánh thiện, còn hơn nữa nó là điều kiện để tiến tới với tính thiết thực trên con đường hoàn thiện. Điều này của mẹ đã bén sâu trong niềm xác tín mà ta thấy trong lá thơ gửi cho sr. Giovanna Borgna: «Các khuyết điểm của chúng ta, nếu ta chiến đấu nó với thiện chí, thì nó là thứ phải giúp ta tiến tới trong sự hoàn hảo, miễn là ta phải khiêm nhường thực sự» (L 28,5).

• Mẹ biểu tỏ sự tin tưởng của mình trong những khả thể cải tiến và lấy lại. Mẹ không đổ lỗi, cũng không lo lắng để ngay từ đầu mọi sự đều hoạt động tốt... Mẹ chấp nhận các nhân vị như họ là và nơi họ đang ở, không chút duy mẫu tử và phản tác dụng. Mẹ động viên họ, đảm bảo là họ sẽ làm được, họ sẽ không ảo tưởng tình cảm của mẹ và chắc chắn mẹ sẽ đem lại cho họ sự vỗ về mà họ đợi chờ.

• Trong cụ thể, mẹ trải nghiệm rằng tất cả đều trách nhiệm về sự hài hòa của cộng đoàn. Mỗi người phải tìm cách đóng góp để thiết lập sự hiệp thông, các sơ và các thiếu nữ cùng với chị giám đốc. Mỗi người chỉ có với những người khác là món nợ của tình bác ái, vì sự hiện diện của Chúa Giêsu thật sống động ở giữa chúng ta, chính Ngài là nguồn mạch của sự hiệp thông.

• Mẹ gợi nhắc các chị em về những lý tưởng lớn được xây trên đó và cống hiến ý nghĩa cho đời sống: sự hiện diện của Đức Giêsu và của Mẹ Maria, đức ái huynh đệ, sức sống vĩnh cửu, thời gian trôi qua, nỗ lực chứng từ đối với các thiếu nữ và các thử sinh. Đồng thời mẹ giúp họ sống nó trong đời thường, trong tính cụ thể của sự thường tình, không hề lý tưởng hóa: «Những lời nói không đưa ta vào Thiên đàng, nhưng là những việc làm». «Chúng ta cần phải sớm xây dựng đời mình trên nhân đức vững chắc và đích thực».

• Niềm vui đua nở từ đức ái, còn hơn nữa nó phải lớn lên tới độ lan tràn sang cả các thiếu nữ. Cả chúng cũng phải tiến bộ trong hành trình này của niềm vui: «Mẹ muốn chúng sống tốt lành và vui vẻ, chúng cứ chạy nhảy, cười vui, ca hát...». Ở nơi đâu thiếu sự đón tiếp niềm nở hỗ tương thì niềm vui bị lịm tắt. Niềm vui salediêng đã bén sâu, ngoài sự hiện diện của Thiên Chúa và ân sủng của Ngài, trên gia đình hiệp nhất bởi mối ràng buộc mãnh liệt của tình thương mến và của niềm an ủi là nhìn thấy những người con của mình được lớn lên và tự do.

• Mẹ không chỉ ngỏ lời với một cộng đoàn tu sĩ. Người nhận của lá thơ này là một cộng đoàn giáo dục: vì vậy, mẹ kêu mời các sơ hãy làm thế nào để cả các em nội trú và các thử sinh cũng tin tưởng vào giám đốc. Mẹ nói một cách minh nhiên: «người mà mẹ rất quí mến». Thực sự, giám đốc là trung tâm của sự hiệp nhất và điều phối các sinh hoạt được thể hiện trong cộng đoàn. Tất cả phải hoạt động trong sự đồng qui ý hướng và trong hợp tác với chị.

• Mẹ Mazzarello chỉ đạo các sơ để nhận định sự phục vụ quyền bính trong ánh sáng đích thực của nó: một “phục vụ” trong logic tin mừng và trong hiệp thông với Đức Maria, vị “giám đốc” đích thực của nhà. Ai được mời gọi để “phục vụ” cộng đoàn như giám đốc thì mang “gánh nặng” của tất cả, một gánh tình yêu và cả nỗi khổ, nhưng ‘gánh nặng’ này được mang với sự bình an và sự phó mặc nơi Đấng hằng mang tất cả mọi gánh nặng của chúng ta, Ngài sẵn sàng, “tình nguyện” ở giữa chúng ta và với Mẹ Maria hằng hướng dẫn các cộng đoàn một cách mẫu tử.

Kết luận

Thánh nữ Teresa viết: nếu «cả thế giới đang bốc cháy»39, thì không được lãng phí thời gian vào những vấn đề phù phiếm và trần tục, nhưng nhắm thẳng vào sự chính yếu.

Đối diện với “sự bùng cháy” của sự phân ly trong Giáo Hội Tây phương và các “cuộc chiến tôn giáo ", Teresa tự hỏi sự đóng góp nào ngài có thể cống hiến cho cộng đoàn của ngài. Không chút chần chừ, ngài khẳng định: cần sống cách đích thực hơn đời sống kitô hữu, tức là vun trồng tình bạn với Thiên Chúa, kinh nghiệm của đức ái trong cộng đoàn, sống một đời sống đơn sơ và thanh thoát, khiêm hạ và từ bỏ mọi sự.

Có một hòa điệu minh nhiên với mẹ Mazzarello và với sứ điệp của mẹ cho chúng ta hôm nay và với của Đức Thánh Cha xin chúng ta bằng tiếng nói ngôn sứ: «Là thời gian của sự trở về với sự chính yếu để trách nhiệm về những yếu đuối và những khó khăn của anh em chúng ta »40.

Ô nhiễm không khí liên quan đến tất cả chúng ta và đúng như vậy, nhưng cũng cần phải lo lắng về thảm họa gây ra trong chúng ta và trong cộng đồng của chúng ta sự bất lực về những cuộc gặp gỡ đích thực hay hời hợt, hoặc lãnh đạm của các cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, với các chị em, với những người trẻ.

Sự hài hòa giữa lòng thương xót và sự thật là con đường thích hợp hơn cả cho việc sinh động các cộng đoàn. Nếu muốn những quan hệ nhân bản được bền vững và trong cộng đoàn được hít thở một bầu khí gia đình thì điều này phải được xây trên một «đức ái đích thực»41.

Suor Piera Cavaglià FMA

Sr. Caty, FMA chuyển ngữ

______________________

Papa Francesco, Discorso al V Convegno nazionale della Chiesa italiana, 10 novembre 2015.

Benedetto XVI, Caritas in Veritate, n. 3.

Papa Francesco, Misericordiae vultus, n. 10.

Misericordiae vultus, n. 8.

Cronistoria III 192.

MACCONO, Santa II 26.

7 Ivi I 383-384.

Cf L 17, 3; L 22, 1; L 49, 3; L 29, 3; L 13, 1.

Lettera a suor Angela Vallese, direttrice della casa di Montevideo Villa Colón, dicembre 1878, L 17, 2.

10 GRUN Anselm, Semplicità del cuore, in La sapienza della vita (2004), 43-44.

11 Papa Francesco, Omelia in S. Marta del 9 dicembre 2015.

12 Cf Papa Francesco nell’ Udienza generale del 4 novembre 2015.

13 La superiora generale delle Suore di Maria Ausiliatrice, in L'Unità Cattolica n. 120 (Torino 21-5-1881) 479; cf Bollettino Salesiano 5 (1881) 6, 8.

14 Cronistoria III 157-158; cf anche III 202: un bicchiere di latte a suor Pacotto che non può dormire…”E la Comunione? “Questo pensiero lascialo a me!”

15 S. FRANCESCO di SALES, Lettera del 14 ottobre 1604, in Lettere di amicizia spirituale. A cura di André Ravier, Milano, Ed. Paoline 1992, 212.216.

16 Cf L 6,6 e la relazione di don Bosco alla S. Sede del 1879 (cf BOSCO Giovanni, in Opere edite XXXI 250-251.

17 S. FRANCESCO di SALES, Lettere 218.

18 Cf Cronistoria III 202.

19 Lettera da Buenos Aires del 4 luglio 1881, in Orme di vita tracce di futuro D 121, pag. 325.

20 Summarium 83, citato in MACCONO, Santa II 240.

21 MACCONO, Santa I 360.

22 Ivi I 360-361.

23 MACCONO, Santa II 241.

24 Citato in: DI NICOLA Giulia Paola, Coeducazione e cultura della reciprocità, in Orientamenti Pedagogici 37 (1990) 6, 1234.

25 Cf RUPNIK, Il discernimento. Seconda parte: come rimanere con Cristo, Roma, Lipa 2001, 60-62.

26 Cronistoria II 11.

27 Cronistoria II 365.

28 Cf ivi 371.

29 Cf Misericordiae vultus, n. 20.

30 Cronistoria III 158-159.

31 Ivi III 159.

32 Ivi III 151-152.

33 S. FRANCESCO di SALES, Lettere 217.

34 Conferenza di fine anno 1880, in Appendice delle Costituzioni, 287.

35 Cf Cronistoria III 161-162. 170-171: 217-219.

36 Epistolario (CERIA) III 379-380.

37 Cronistoria III 217-219.

38 Ivi 238-239.

39 S. TERESA, Cammino di perfezione 1,5.

40 FRANCESCO, Misericordiae vultus, n. 10.

41 Nella lettera 40,3 e nella lettera 49,2 Madre Mazzarello richiama le sorelle ad amarsi con “vera carità”.