Thursday, Dec 14th

Last update:07:40:37 AM GMT

You are here: Tư liệu Suy tư - chia sẻ Niềm vui của Tình yêu: bản giao hưởng của tình yêu hôn nhân

Niềm vui của Tình yêu: bản giao hưởng của tình yêu hôn nhân

Email In PDF.


Ngày 8 tháng 4 năm 2016 tông huấn «Amoris laetitia», niềm vui của tình yêu, của Đức Thánh Cha Phanxicô viết về “tình yêu trong gia đình” đã được ra đời. Tông huấn đã nhận được sự tiếp nhận nhiệt tình từ phía những ai trông chờ nơi sự đổi mới cũng như những phê bình từ phía những người chỉ ước muốn sự áp dụng đơn thuần mang tính giáo điều. Thành phần cuối cùng này cảm thấy bị đè nặng bởi nỗi lo sợ liên quan đến chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa bi quan. Bình luận về tông huấn, những người này phê phán sự thiếu liên tục hay sự kế tục lỏng lẻo đối với giáo điều đã có; nhưng họ lại nhắm mắt trước ‘những điều mới mẻ’ mà tông huấn loan báo như một bài suy niệm sâu xa của lời Tin Mừng “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn”, Ga 16, 12-14.

Gặp gỡ, thông tri, hợp nhất vợ chồng

Trong các đề tài khác nhau được bàn đến trong tông huấn, nổi bật lên phần về quan hệ vợ chồng. Tiếp nối sự cương quyết liên lỉ của Huấn Quyền về yếu tố hạt nhân của gia đình và về việc truyền sinh, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh tính trung tâm của đôi phu thê, tức của người nam và người nữ yêu nhau và thề hứa với nhau về tình yêu, sự chăm sóc hỗ tương, sự trung thành. Đức Thánh Cha khởi đi từ sự quan tâm của Đức Gioan Phaolo II đối với gia đình để nói thêm về việc tôibạn cùng nhau tạo thành cái chúng ta; đây là nền tảng của hạt nhân gia đình, nơi xuất phát lời thề hứa hôn nhân. Ngoài ra, Đức Thánh Cha cũng bàn đến việc truyền sinh. Ngài chỉ ra rằng: «thông thường chúng ta trình bày hôn nhân theo cách nào đó khiến cho mục đích kết hợp của hôn nhân, lời mời gọi triển nở trong tình yêu và lý tưởng tương trợ lẫn nhau bị lu mờ đi, trong khi quá nhấn mạnh về bổn phận sinh sản như thể đó là mục đích duy nhất» (AL, 36).

Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh sự gặp gỡ, sự thông tri và hợp nhất vợ chồng: «Đó là sự gặp gỡ một khuôn mặt, một “người khác” phản chiếu tình yêu thánh thiêng và là “thiện ích đệ nhất, là một trợ tá tương xứng, và trụ cột để tựa nương”, như một hiền triết trong Thánh Kinh đã nói (Hc 36,24). Hoặc như, cô dâu trong sách Diễm Ca đã thốt lên một lời tuyên xưng diệu kỳ về tình yêu và về ân huệ người ta trao ban cho nhau: “Người tôi yêu thuộc trọn về tôi và tôi thuộc trọn về chàng (Dc 2,16; 6,3) […].Từ cuộc gặp gỡ chữa lành được nỗi cô đơn này phát sinh sự sống mới và gia đình» (AL, 12-13).

Thật vậy phần dẫn nhập đã cho thấy rằng ở đây muốn bàn về ‘sự hoà hợp của tình yêu Kitô giáo’, một sự hoà hợp biết chân nhận sự hấp dẫn tự nhiên giữa người nam và người nữ, tức sự đam mê, tình yêu tính dục, như Đấng Tạo Hóa đã muốn như thế và đã ghi dấu trong sự khác biệt giới tính nơi các thụ tạo của Người. Khía cạnh thường bị các văn kiện của các Đức Thánh Cha bỏ qua này thật ra đã được Đức Biển Đức XVI bàn đến trong Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu (Deus caritas est), ngài viết: «Dù cho eros lúc đầu chủ yếu là ham muốn và đòi hỏi, trước quyến rũ của hứa hẹn hạnh phúc được cận kề bên nhau, người ta càng ngày càng bớt chú ý đến chính mình, gia tăng tìm kiếm hạnh phúc cho người kia, lo lắng cho người yêu, cho đi chính mình và muốn "hiện diện" cho người kia. Yếu tố agape vì thế bước vào tình yêu, nếu không eros tàn lụi và đánh mất cả bản chất của chính nó. Mặt khác, người ta không thể chỉ sống bằng tình yêu vị tha, và cho đi. Ai muốn trao ban tình yêu thì người đó cũng phải nhận được tình yêu như một quà tặng. Chắc chắn, như Thiên Chúa nói với chúng ta, ta có thể trở thành nguồn mạch tuôn chảy những dòng nước hằng sống (x Ga 7:37-38). Nhưng để trở nên một nguồn mạch như thế, chính ta phải thường xuyên uống mãi từ nguồn nguyên thủy là Chúa Giêsu Kitô, Đấng từ trái tim bị lưỡi đòng đâm thấu của Ngài tuôn đổ tình yêu của Thiên Chúa (x Ga 19:34)» (s.7).

Từ góc nhìn này, tất cả những gì liên quan đến tình yêu xác thịt mang một ánh sáng mới và tích cực. Tính cụ thể là một đặc nét quan trọng của toàn bộ tông huấn: nụ hôn, sự vuốt ve, vòng tay ôm không chỉ là sự thoả mạng vị kỷ của nhu cầu bản năng nhưng còn tạo nên một độ phóng cho sức năng động thiết thực của bản chất tình yêu vị tha và trao hiến. Được nuôi dưỡng bởi những ý hướng ngay lành, mỗi khía cạnh đều trải qua một tiến trình thăng trầm với những sự vui thoả cũng như những trở ngại trong việc thông tri nhằm đào sâu cảm xúc yêu thương, hướng nó đến tình yêu tuyệt đối, tức agape, là tình yêu mà thánh Phaolô nói đến trong Bài ca Đức ái bất hủ (1 Cr 13,4-7).

Đồng hành, phân định, hội nhập

Khi nhìn với lăng kính của việc đánh giá tình yêu tính dục, ta có thể hiểu những suy tư liên quan đến các gia đình bất hợp lệ. Đức Thánh Cha không khởi đi từ ý định nhượng bộ cho “khát khao vô độ” của sự mới mẻ cũng như sự cần thiết nới rộng nghi lễ, nhưng từ khát vọng Tin Mừng về một Giáo Hội biết giang tay đón lấy tất cả và - bằng việc đồng hành với họ - tạo thuận lợi cho hành trình của mỗi người để tiến đến tình yêu thánh thiêng.

Công luận đã trông chờ một công bố có thế giá về những trường hợp được xem là “bất hợp lệ”, tức những trường hợp được xem là không đáp ứng trọn vẹn “điều mà Thiên Chúa đề xuất”.

Đức Thánh Cha trước hết phê bình ngôn từ tự bản chất mang tính loại trừ, bởi lẽ trước mặt Thiên Chúa, dù với những mức độ khác nhau, chúng ta đều là những người tội lỗi: «không gia đình nào là hoàn hảo và được kiện toàn một lần dứt khoát; nhưng đòi hỏi một sự phát triển tiệm tiến khả năng yêu thương của mình (…). Tất cả chúng ta được mời gọi để tiếp tục phấn đấu hướng đến một cái gì đó lớn lao hơn chính chúng ta và những giới hạn của chúng ta» (AL 325). Vì thế, có lời mời gọi bỏ đi lối phân biệt giữa “hợp lệ” và “bất hợp lệ”, bởi tạo cho ta một tâm thức và dẫn ta đến việc xét đoán những gì là không hợp với luật lệ: không ai là hoàn hảo và không ai bị lên án và loại trừ mà vô phương cứu chữa.

Khi nói đến các gia đình bất hợp lệ là qui tóm trong một thành phần trừu tượng và một luật lệ phổ quát vô số những tình cảnh khác nhau - khác nhau như lịch sử cuộc đời từng cá thể: «cần phải tránh những phán quyết mà không xét đến tính phức tạp của các hoàn cảnh khác nhau, và cần phải lưu tâm tới cách thế mà người ta đang sống và khốn khổ vì điều kiện sống của họ» (AL 296). Như thế, «‘vì mức độ trách nhiệm không như nhau trong mọi trường hợp’, nên các hệ quả hoặc các hiệu quả của một luật lệ không nhất thiết phải luôn giống nhau, ngay cả khi liên quan tới kỷ luật bí tích, vì sự phân định có thể nhận ra rằng trong hoàn cảnh cụ thể đó không phải là một lỗi phạm nặng» (AL 300). Nói cách khác, «những gì là thành phần làm nên sự phân định thực tế trước một hoàn cảnh riêng không thể được nâng lên mức độ của một qui luật» (AL 304).

Tông huấn mời gọi suy tư trên 3 động từ: “đồng hành, phân định, hội nhập”. Giáo Hội cần một ánh nhìn tích cực, không phàn nàn, chỉ trích đối với những nỗi trắc trở của các gia đình. Cần gần gũi với thực trạng cụ thể của mọi người nam nữ mà không gạt bỏ lý tưởng cao và bất đạt của gia đình là hình ảnh của tình yêu Ba Ngôi, nhưng đồng hành với hành trình bất trắc của ai sống trong những cảnh huống phức tạp, bi thương, đặc biệt cần đến một bàn tay thân tình, một Giáo Hội sống gần với tất cả, không loại trừ một ai, nhất là khi nhân danh Thiên Chúa: «Hội Thánh có một lối suy tư vững chắc về những điều kiện và những hoàn cảnh giảm khinh. Bởi thế, người ta không thể nói rằng tất cả những người đang ở trong một hoàn cảnh gọi là “trái qui tắc” là đang sống trong tình trạng tội trọng, mất đi ơn thánh hóa. Các giới hạn đó không chỉ tùy thuộc vào sự thiếu hiểu biết về luật. Một người, dù biết rõ luật, cũng có thể gặp khó khăn lớn trong việc hiểu biết “các giá trị hàm ẩn trong nguyên tắc luân lý”» (AL, 301).

Chẳng lẽ đây lại là một sự chối bỏ giáo thuyết về bí tích hôn nhân? Đây chẳng phải là vì sự gần gũi, sự quan tâm đến những trường hợp cụ thể không đồng nghĩa với sự cổ động cho “luân lý của hoàn cảnh” và cho “luân lý của cá nhân chủ nghĩa”. Những tình huống này đòi hỏi những qui luật theo những cảnh huống riêng, mang tính cá vị như “cái tôi” của mỗi người. Đức Thánh Cha ngụ ý nhấn mạnh sự cần thiết của việc hoà hợp giữa chân lý với đức ái và lòng xót thương. Không có đức ái và lòng xót thương, chân lý chỉ là một giá treo cổ.

Giulia Paola Di Nicola - Attilio Danese

Sr. Maria Diễm Trinh, FMA chuyển ngữ