Wednesday, Apr 25th

Last update:03:49:00 AM GMT

You are here: Tư liệu Suy niệm Lời Chúa Thứ bảy, trước Lễ Chúa Hiển Linh

Thứ bảy, trước Lễ Chúa Hiển Linh

Email In PDF.

 « Người là con ông Giuse »

(Lc 3, 23-38)

23 Khi Đức Giê-su khởi sự rao giảng, Người trạc ba mươi tuổi. Thiên hạ vẫn coi Người là con ông Giu-se. Giu-se là con Ê-li, 24 Ê-li con Mát-tát, Mát-tát con Lê-vi, Lê-vi con Man-ki, Man-ki con Gian-nai, Gian-nai con Giô-xếp. 25 Giô-xếp con Mát-tít-gia, Mát-tít-gia con A-mốt, A-mốt con Na-khum, Na-khum con Khét-li, Khét-li con Nác-gai. 26 Nác-gai con Ma-khát, Ma-khát con Mát-tít-gia, Mát-tít-gia con Sim-y, Sim-y con Giô-xếch, Giô-xếch con Giô-đa. 27 Giô-đa con Giô-kha-nan, Giô-kha-nan con Rê-sa, Rê-sa con Dơ-rúp-ba-ven, Dơ-rúp-ba-ven con San-ti-ên. 28 Nê-ri con Man-ki, Man-ki con Át-đi, Át-đi con Cô-xam, Cô-xam con En-mơ-đam, En-mơ-đam con E. 29 E con Giê-su, Giê-su con Ê-li-e-de, Ê-li-e-de con Giô-rim, Giô-rim con Mát-tát, Mát-tát con Lê-vi. 30 Lê-vi con Si-mê-ôn, Si-mê-ôn con Giu-đa, Giu-đa con Giô-xếp, Giô-xếp con Giô-nam, Giô-nam con En-gia-kim, 31 En-gia-kim con Ma-li-a, Ma-li-a con Mi-na, Mi-na con Mát-tát-ta, Mát-tát-ta con Na-than, Na-than con Đa-vít. 32 Đa-vít con Gie-sê. Gie-sê con Ô-vết, Ô-vết con Bô-át, Bô-át con Xan-môn, Xan-môn con Nác-sôn. 33 Nác-sôn con Am-mi-na-đáp, Am-mi-na-đáp con Át-min, Át-min con Ác-ni, Ác-ni con Khét-rôn, Khét-rôn con Pe-rét, Pe-rét con Giu-đa. 34 Giu-đa con Gia-cóp, Gia-cóp con I-xa-ác, I-xa-ác con Áp-ra-ham. 35 Na-kho con Xơ-rúc, Xơ-rúc con Rơ-u, Rơ-u con Pe-léc, Pe-léc con Ê-ve. Ê-ve con Se-lác. 36 Se-lác con Kê-nan, Kê-nan con Ác-pắc-sát, Ác-pắc-sát con Sêm, Sêm con Nô-ê, Nô-ê con La-méc. 37 La-méc con Mơ-thu-se-lác. Mơ-thu-se-lác con Kha-nốc, Kha-nốc con Gie-rét, Gie-rét con Ma-ha-lan-ên, Ma-ha-lan-ên con Kên-nan. 38 Kên-nan con E-nốt, E-nốt con Sết, Sết con A-đam và A-đam là con Thiên Chúa.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

1. Những điều lạ lùng

So sánh với bản gia phả của Đức Giê-su theo lời kể của thánh Mát-thêu (x. Mt 1, 1-17) và khởi đi từ kinh nghiệm sống, chúng ta có thể thấy bản phả của Đức Giêsu theo thánh Luca có nhiều điều lạ lùng:

(1) Bình thường khi kể về cuộc đời của một người, gia phả được kể đầu tiên, như thánh Matthêu đã làm trong Tin Mừng của mình. Nhưng thánh Luca mãi đến cuối chương 3 mới kể gia phả!

(2) Thánh Luca đặt gia phả của Đức Giêsu ở giữa hai biến cố chịu phép rửa và chịu cám dỗ. Điều này rất lạ, so với hai Tin Mừng nhất lãm còn lại; và chúng ta có thể tự hỏi: thánh Luca muốn nói với chúng ta điều gì?

(3) Khi kể gia phả, thánh Luca lại kể không giống ai! Bởi lẽ thay vì kể từ tổ tiên xuống tới thế hệ con cháu hiện nay, như thánh Mát-thêu, trong bản gia phả, đã khởi đi từ “Abraham sinh Isaac”, thánh Luca lại khởi đi từ thế hệ con cháu hiện nay để lần lên tới tổ tiên.

(4) Điều lạ lùng thứ tư, mà ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra, đó là thánh Luca đi từ thế hệ con cháu để lần lên tới tổ tiên, không phải tổ tiên của một dân tộc, nhưng là tổ tiên của cả loài người, đó là ông Adam! (c. 38) Điều này giải thích phần nào, tại sao thánh Luca kể ngược, vì nếu kể suôi chắc chắn là sẽ bị lạc, khó có thể lần ra thánh Giuse và qua đó Đức Giêsu! Và có một hệ quả lạ lùng, khi kể ngược lên tới Adam, đó là bất cứ ai trong chúng ta cũng có một gia phả y như Đức Giêsu, chỉ dài hơn “một chút” thôi. Từng người chúng ta, khi kể gia phả ngược lên, chắc chắc sẽ tới Adam, không chạy đi đâu được! Và nếu tới được Adam, thì chắc chắn sẽ tới Thiên Chúa, cũng không lạc đi đâu được!

Ngoài ra, các nhà chuyên môn còn cho chúng ta thấy nhiều điều lạ lùng nữa, khi nghiên cứu các tên gọi, cách chọn lựa và sắp xếp. Tuy nhiên khởi đi từ bốn điều lạ lùng chúng ta vừa nêu, đủ để chúng ta suy gẫm suốt ngày và lâu dài rồi!

2. Con của Thiên Chúa và Con của Con Người

Ở đây, chúng ta có thể dừng lại một chút ở điều lạ lùng thứ hai, nghĩa vị trí rất đặc biệt của gia phả Đức Giêsu theo Tin Mừng Luca, ở giữa biến cố phép rửa và biến cố chịu cám dỗ.

Ba chương đầu của Tin Mừng theo thánh Luca, mà chúng ta được nghe liên tục trong mùa vọng và mùa Giáng Sinh, mặc khải cho chúng ta về căn tính thần linh của Đức Giêsu: Ngài là Con Thiên Chúa, theo nghĩa “đặc biệt”. Đỉnh cao của mặc khải ban đầu này là lời tuyên bố từ trời trong biến cố phép rửa: “Con là Con của Cha, ngày hôm này, Cha đã sinh ra con” (Lc 3, 22). Tuy nhiên, bản gia phả của Đức Giêsu lại mặc khải cho chúng ta một căn tính khác của Đức Giêsu: Ngài là Con Thiên Chúa, còn theo nghĩa “thông thường” nữa. Theo nghĩa thông thường, nghĩa là Ngài là Con Thiên Chúa, bởi vì Ngài là con của Adam, và Adam là con Thiên Chúa. Và bất cứ ai, không phân biệt, đều như thế cả, đều là Con Thiên Chúa ngang qua ông tổ Adam, cha của toàn nhân loại! Trở nên Con Thiên Chúa bằng con đường thông thường, nghĩa là bằng nhân tính, bằng thân phận con người, đó chính là cuộc sống Đức Giê-su sẽ sống, là con đường người sẽ đi. Nếu khác đi, Đức Giêsu sẽ chẳng thực sự đụng chạm thực sự, sâu sa và toàn diện đối với chúng ta.

Chính vì thế, những thử thách đầu tiên của Satan dành cho Đức Giêsu, chính là gợi ý cho Người trở nên Con Thiên Chúa, được nhìn nhận là Con Thiên Chúa, bằng quyền năng, bằng phép lạ cả thể. Thử thách này sẽ luôn bàng bạc ở trong ý đồ của các tông đồ và các môn đệ (Đức Giêsu sẽ gọi Phêrô là Satan!); và thử thách này sẽ trở lại lần cuối cùng vừa rõ nét và vừa quyết định trên đồi Golgatha: “Xuống khỏi thập giá, chúng ta thấy và chúng ta sẽ tin”. Thử thách này quá lớn và quá mạnh; và kinh nghiệm cho thấy, không ai trong chúng ta có thể cưỡng lại được. Chúng ta hãy giả định: nếu Thiên Chúa cho Đức Giêsu xuống khỏi thập giá, tức khắc Thiên Chúa sẽ được nhìn nhận là Cha Đức Giêsu và Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Nhưng rất tiếc, đó lại là Thiên Chúa và Con Thiên Chúa theo kiểu của Satan!

Thử thách này dành cho Thiên Chúa và cho Đức Kitô của Ngài vẫn còn tiếp diễn, mỗi khi loài người chúng ta đòi Thiên Chúa phải thực hiện những “phép lạ cả thể”, phải thi thố quyền năng trái với nhân tính và trái qui luật của thế giới sáng tạo. Và như thế, gia phả của Đức Giê-su theo thánh Luca, mới nghe thật là dài và khô khan, thậm chí khó đọc nữa! Nhưng khi chúng ta biết lắng nghe, chúng ta sẽ nghiệm được một luồng ánh sáng làm rạng rỡ cách Đức Giê-su trở nên Con Thiên Chúa và cách mỗi người chúng ta trở nên Con Thiên Chúa. Bởi lẽ, Đức Kitô là Con Đường của chúng ta.

3. Cả nhân loại là “Một” nơi Adam

Cả nhân loại là “Một” nơi Adam! Chân lí này thật lớn lao, nếu chúng ta đem so với hiện thực nhân loại hôm nay, đầy bất đồng, bất ổn, ghen tị, chia rẽ, loại trừ, lên án, phân biệt chủng tộc. Vì thế, chân lí sáng tạo này cũng đồng thời là một ơn gọi: Loài người chúng ta được mời gọi trở nên Một.

Đức Kitô đến để tái xác nhận chân lí này về loài người, Ngài sống trọn vẹn chân lí này và qua đó chỉ cho loài người chúng ta con đường trở nên một: đó là sống trọn vẹn nhân tính mà Thiên Chúa ban tặng. Tội “tổ tông” chính là từ chối nhân tính; và con người từ chối nhân tính, sẽ tất yếu sống theo thú tính.

Vì thế, điều mà Đức Giê-su ước ao và tha thiết cầu xin với Chúa Cha, đó là :

“Xin cho chúng nên một, như chúng ta là một”. (Ga 17, 22)

Theo trình thuật Sáng Tạo Bảy Ngày (x. St 1), « Con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa », có nghĩa là con người được dựng nên là một, giống như Thiên Chúa, vốn tự yếu tính, là một. Thế mà, yếu tính chỉ có thể được thông truyền từ cha sang con. Do đó, con người có một tương quan duy nhất với Thiên Chúa, đó là tương quan cha-con, giống như Tin Mừng theo thánh Luca nói: “Adam là con Thiên Chúa”; và như thế tất cả chúng ta là anh chị em, chứ không phải là những loại hay những loài khác nhau.

Mặc khải của Lời Chúa về sự hiệp nhất, vốn là ơn huệ Thiên Chúa ban cho con người, có tầm quan trọng quyết định cho nỗ lực của chúng ta sống hiệp nhất, bởi vì hiệp nhất không phải là một lí tưởng ở trên cao hay ở bên ngoài chúng ta ; và để sống hiệp nhất, chúng ta không thể dựa vào bất cứ điều gì khác ngoài sự thật này: chúng ta được dựng nên là một, giống như Thiên Chúa là một. Và cũng giống như hạt giống đã được Thiên Chúa gieo trồng cách quảng đại và nhưng không, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi vun trồng cho hạt giống ơn huệ hiệp nhất được nẩy mầm, lớn lên và sinh hoa kết quả gấp trăm. Vì thế, ơn huệ hiệp nhất cũng đồng thời là một ơn gọi trở nên hiệp nhất.

* * *

Nhưng ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về những khó khăn và trở ngại đủ loại, bên trong cũng như bên ngoài, trong những nỗ lực hằng ngày để trở nên hiệp nhất. Loài người chúng ta, bị chi phối bởi ma quỉ, kẻ chuyên môn gây chia rẽ, luôn có khuynh hướng nghi ngờ, ghen tị, chia rẽ, thậm chí loại trừ nhau, ngay trong lòng, ở mọi cấp độ tương quan : giữa các quốc gia, giữa các tôn giáo, giữa các nhóm, giữa các cá nhân. Sứ mạng của Đức Ki-tô là làm cho chúng ta trở nên một ; và Ngài đã làm tất cả những gì có thể làm để thực hiện sứ mạng này :

- Để cho chúng ta trở nên một, Ngài cầu nguyện cho chúng ta và hơn nữa ban luôn cho chúng ta vinh quang mà Chúa Cha đã ban cho Ngài. Vinh quang ở đây không là gì khác hơn là phẩm giá làm con Thiên Chúa, với ơn huệ sự sống và tình yêu viên mãn.

- Để cho chúng ta trở nên một, Ngài yêu thương chúng ta đến cùng bằng các trở nên một với chúng ta trước trong hành vi rửa chân, bí tích Thánh Thể và mầu nhiệm Thập Giá, để Ngài ở đâu, chúng ta cũng ở đó với Ngài.

- Và để cho chúng ta trở nên một, Ngài mặc khải Danh Chúa Cha cho chúng ta, và chia sẻ Cha của Ngài cho chúng ta : « Cha của Thầy cũng là Cha của anh em », để tình Cha đã yêu thương Ngài ở trong chúng ta, và Ngài cũng ở trong chúng ta.

Và sau cùng Ngài về với Chúa Cha, chính là để sai Thánh Thần đến hoạt động trong chúng ta và ở giữa chúng ta, nhằm nối kết chúng ta nên một bằng Lời nói, tình yêu, sự sống và sự thật của Đức Ki-tô, Đấng đón nhận tất cả từ Chúa Cha.

Vậy, chúng ta hãy mở lòng ra, dành chỗ cho Chúa Thánh Thần ngự đến, để Ngài làm cho thành sự ước ao của Thiên Chúa, và cũng là ước ao cháy bỏng của Đức Ki-tô, đó là chúng ta trở nên một, như Thiên Chúa là một.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc