img-detail
calendar 09/07/2024

Suy niệm Lời Chúa: Thứ Tư tuần 14 Thường niên năm B

ĐƯỢC GỌI, CHỌN VÀ SAI ĐI

(Hs 10:1-3.7-8.12; Mt 10:1-7)

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB

Ngôn sứ Hôsê, trong bài đọc 1, tiếp tục nói về đời sống tôn thờ ngẫu tượng của Israel. Càng thịnh vượng, Israel càng chạy theo ngẫu tượng: “Israel vốn là một cây nho sum sê, trái trăng thật dồi dào phong phú. Nhưng trái trăng càng nhiều, chúng càng dựng thêm các bàn thờ ngẫu tượng; đất nước càng giàu sang, chúng càng làm thêm những cột thần lộng lẫy” (Hs 10:1). Tình trạng này cũng nói lên tình trạng của nhiều người trong chúng ta. Khi bần cùng, thiếu thốn, chúng ta thường chạy đến với Chúa để cầu xin. Nhưng khi được thịnh vượng, chúng ta lại quy chiếu mọi sự về mình và quên mất Đức Chúa. Thật vậy, nhiều lần trong ngày sống, chúng ta cũng sống “lòng một dạ hai,” hay nói đúng hơn là sống tình yêu na vời với Đức Chúa. Đức Chúa qua lời ngôn sứ Hôsê kêu gọi con cái Israel và mỗi người chúng ta tìm về với Đức Chúa để không bị diệt vong: “Hãy gieo công chính, rồi sẽ gặt được tình thương. Hãy khai khẩn đất hoang; đây là thời kiếm tìm Đức Chúa cho đến khi Người đến làm mưa công chính trên các ngươi” (Hs 10:12). Đức Chúa mong ước mỗi người chúng ta tìm kiếm và gieo rắc sự công chính, đó là sống theo đường lối Đức Chúa chỉ dạy. Khi sống công chính, chúng ta sẽ gặt được hoa trái yêu thương.

Bài Tin Mừng hôm nay bắt đầu trình thuật về sứ vụ (Mt 10:1-42). Trong trích đoạn hôm nay, chúng ta nghe về sứ vụ của Mười Hai Tông Đồ. Những câu này, cùng với 9:36-38, giới thiệu bài giảng quan trọng thứ hai của Tin Mừng, bài giảng về sứ vụ của Mười Hai Tông Đồ. Một vài học giả Kinh Thánh thích gọi trích đoạn hôm nay là “phần trung tâm” vì nó bao gồm cả trình thuật về sứ vụ (9:36; 10:1-5a), nhưng nó không mang nghĩa sứ vụ theo cách hiểu hiện đại hôm nay. Cũng giống như bài giảng trên núi, phần này được kết hợp giữa một phần trong Tin Mừng Thánh Máccô và nguồn Q. Thánh Mátthêu đã tái thiết lại hai nguồn này, nhất là các câu 5a-8.

Trình thuật bắt đầu với việc Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ đến bên Ngài: “Khi ấy, Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10:1). Thông thường, thuật ngữ môn đệ được sử dụng ám chỉ đến một nhóm nhiều người theo Chúa Giêsu, nhưng trong câu chuyện [và một nơi khác, chương 18] Thánh Mátthêu đã giới hạn thuật ngữ trong Nhóm Mười Hai. Trong việc sử dụng này, Thánh Mátthêu muốn giữ Nhóm Mười Hai với các môn đệ khác, nhưng đồng thời chỉ ra họ là một nhóm đặc biệt. Chi tiết này mời gọi chúng ta nhìn lại ơn gọi Kitô hữu [ơn gọi thánh hiến] của mình giữa muôn người. Chúng ta cũng sống với những người khác, nhưng chúng ta có ơn gọi đặc biệt, đó là trở nên tông đồ của Chúa Giêsu. Để trở nên những người tông đồ đắc lực chúng ta cần ý thức như các Tông Đồ rằng, chúng ta được Chúa Giêsu gọi và ban cho quyền của Ngài. Trong vấn đề này, các thánh sử của Tin Mừng Nhất Lãm đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những người được Chúa Giêsu sai đi. Họ có quyền từ Chúa Giêsu. Trong việc gọi các môn đệ và sai họ đi, Chúa Giêsu luôn là người chủ động, đi bước trước. Điều này nhắc nhở chúng ta về thái độ của mình trong đời sống sứ vụ. Chúng ta được Chúa Giêsu gọi và chọn không phải là do công trạng của mình, nhưng do tình yêu của Ngài. Ngài muốn đưa chúng ta vào trong qu đạo của tình yêu Chúa Cha dành cho Ngài và Ngài dành cho Chúa Cha. Những gì chúng ta có và chúng ta là đều đến từ Ngài và thuộc về Ngài. Chúng ta không có gì để tự mãn ngoài niềm vui được gọi, được chọn, được ban quyền và được sai đi. Chỉ khi chúng ta hiểu được chân lý này, chúng ta sẽ tìm thấy được niềm vui trong phục vụ và yêu thương.

Thánh Mátthêu tiếp đến kể cho chúng ta nghe tên của mười hai Tông Đồ: “đứng đầu là ông Simôn, cũng gọi là Phêrô, rồi đến ông Anrê, anh của ông; sau đó là ông Giacôbê con ông Dêbêđê và ông Gioan, em của ông; ông Philípphê và ông Batôlômêô; ông Tôma và ông Mátthêu người thu thuế; ông Giacôbê con ông Anphê và ông Tađêô; ông Simôn thuộc nhóm Nhiệt Thành, và ông Giuđa Ítcariốt, là chính kẻ nộp Người” (Mt 10:2-4). Con số mười hai đến từ mười hai chi tộc Israel (x. Mt 19:28) và là biểu tượng của việc tái thiết lại toàn bộ Israel. Như chúng ta biết, thuật ngữ “Tông Đồ” [apostolos] chỉ xuất hiện ở đây trong Tin Mừng Thánh Mátthêu. Nhìn danh sách tên các Tông Đồ, chúng ta không khỏi kinh ngạc về sự phong phú và khác biệt trong tính cách của mỗi người. Điều giữ họ thuộc về nhóm là sự kiện “được Chúa Giêsu gọi, chọn, ban cho quyền và sai đi.” Nói cách khác, Chúa Giêsu chính là mối dây liên kết họ lại với nhau trong đời sống chung và trong đời sống sứ vụ. Chi tiết này mời gọi chúng ta suy gẫm về đời sống của mình với anh chị em: Trong đời sống chung và phục vụ của mình, chúng ta có để Chúa Giêsu làm trung tâm điểm và là mối dây liên kết chúng ta với anh chị em mình không?

Trình thuật Tin Mừng kết thúc với hướng dẫn của Chúa Giêsu cho các Tông Đồ về đối tượng và sứ điệp rao giảng của mình: “Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Samari. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel. Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần” (Mt 10:5-7). Theo các học giả Kinh Thánh, mệnh lệnh tránh rao giảng cho dân ngoại và người Samaria là để theo việc thực hành của Chúa Giêsu (x. Mt 15:25). Điều khó khăn nhất ở đây là làm thế nào để hoà giải những câu này với việc sai đi trong 28:19. Chúng ta không thể tìm được một câu trả lời dễ dàng, nhưng chúng ta có thể tìm thấy cánh cửa mở ra cho việc rao giảng cho dân ngoại tại một vài chỗ trong Tin Mừng (x. Mt 10:18; 3:9; 8:11; 21:43; 22:1-14; 23:38-39). Có lẽ, Thánh Mátthêu để mệnh lệnh này ở đây vì nó quan trọng cho các thành viên trong cộng đoàn và được diễn tả cách mạnh mẽ trong ý thức của người Do Thái về chính truyền thống đặc trưng của chính mình. Các Tông Đồ chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel. Hình ảnh được tìm thấy trong sách Ngôn sứ Êdêkien (34:2-6). Nó ám chỉ trước tiên đến toàn bộ dân Israel, bao gồm nhng “chi tộc bị lạc.” Nhưng nó cũng ám chỉ đến một nhóm nhỏ bên trong dân Israel, đó là “những người bản địa,” những người vì một lý do nào đó [kiếm sống, kinh doanh, không được giáo dục] bị loại ra khỏi nhóm được quan tâm bởi những người lãnh đạo tôn giáo. Chúa Giêsu có mối quan tâm đặc biệt đến những người này, nhưng không có nghĩa là Ngài loại trừ những người khác. Mục đích của Ngài không phải là làm suy yếu dân Thiên Chúa, nhưng là để nối kết họ lại với nhau. Và những “con chiên lạc” này đáp lại tiếng mời gọi đầy yêu thương của Ngài. Là những môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta cũng được sai đến những người bị loại ra bên lề xã hội, những người bị người khác coi thường, không muốn làm bạn. Điều này đòi hỏi chúng ta vượt qua khuynh hướng tự nhiên để chọn những người dễ thương, dễ mến, dễ bảo để làm bạn với mình. Chúng ta cần yêu những người không dễ yêu, gần những người không dễ gần, và tha thứ cho những người khó tha thứ. Chỉ khi làm được như thế, con tim chúng ta mới trở nên giống con tim tràn đầy tình yêu của Chúa Giêsu hơn.