Suy niệm Lời Chúa: Thứ Năm tuần 5 Thường niên (năm lẻ)
ƠN
CỨU ĐỘ DÀNH CHO HẾT MỌI NGƯỜI
(St 2:18-25; Mc
7:24-30)
Lm.
Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Chúng
ta thường nói những người có nhà cao cửa rộng, công việc ổn định và có gia đình
êm ấm là hạnh phúc. Nói theo cách khác, những ai thực hiện được giấc mơ của
mình là hạnh phúc. Tuy nhiên, những hạnh phúc của con người luôn có giới hạn.
Không ai trong chúng ta được hạnh phúc luôn mãi: Hôm nay cười, ngày mai sẽ có
buồn phiền, vì ngày nào có sự khốn khó của ngày đó (x. Mt 6:34). Lời Đáp Ca hôm
nay trình bày cho chúng ta một loại người luôn hạnh phúc, không chỉ ở đời này
mà cả đời sau, đó là những người kính sợ Thiên Chúa: “Hạnh phúc thay những
người kính sợ Chúa.” Kính sợ Thiên Chúa làm cho chúng ta cẩn thận hơn trong từng quyết
định và thái độ sống của mình; làm cho chúng ta hiền dịu, tế nhị, thông cảm và
nhất là khiêm nhường hơn trong tương quan của chúng ta với Chúa và với nhau.
Sách Châm Ngôn dạy chúng ta rằng: Kính sợ Thiên Chúa là đầu mối mọi khôn ngoan
(x. Cn 9:10). Chúng ta hãy tìm hạnh phúc trường cửu trong việc “kính sợ và làm
theo ý Thiên Chúa,” hơn là hạnh phúc chóng qua trong việc “sợ hãi và làm vui
lòng con người.”
Trong
bài đọc 1 hôm nay, chúng ta thấy sự khác biệt trong việc sáng tạo người nam
người nữ giữa hai trình thuật sáng tạo Tư Tế và Yawist. Trong trình thuật sáng
tạo Tư Tế [chúng ta nghe trong bài đọc 1 hôm qua], người nam và người nữ được
sáng tạo cùng lúc theo hình ảnh và giống Thiên Chúa (St 1:26-27). Còn trong
trình thuật sáng tạo Yawist, người nam được sáng tạo trước và người nữ được
sáng tạo từ “cạnh sườn” của người nam. Sự khác biệt này không có ý nói đến sự
bất đồng của các tác giả Sách Thánh trong việc thuật lại sáng tạo con người của
Thiên Chúa. Sự khác biệt này nói lên sứ điệp Tin Mừng mà từng tác giả muốn
truyền tải cho người nghe của mình trong những khoảng không gian và thời gian
hoàn toàn khác biệt: trình thuật sáng tạo Yawist cho những người Do Thái thời
Solomon [thời an bình thịnh vượng], còn trình thuật Tư Tế cho những người Do
Thái trong thời lưu đày [thời kỳ sống giữa dân thờ ngẫu tượng và bị cám dỗ bỏ
quên Thiên Chúa qua việc không giữ luật ngày sabát]. Tuy nhiên, cả hai trình
thuật có cùng một sứ điệp, đó là: Con người là tạo vật tuyệt hảo nhất mà Thiên
Chúa đã sáng tạo nên và “muốn trong chính nó.” Như thế, con người “nợ” Thiên
Chúa sự sống của mình và vì vậy con người luôn “lệ thuộc” Ngài trong mọi sự.
Điều này cho thấy, sứ điệp Tin Mừng của Thiên Chúa siêu vượt thời gian và không
gian. Nó không bao giờ thay đổi, nhưng có khả năng diễn tả chính mình cách mới
mẻ cho con người qua mọi thời đại. Nếu con người biết lắng nghe và mở rộng tâm
hồn để đón nhận lời Chúa trong hoàn cảnh sống cá biệt của mình, thì con người
sẽ được biến đổi.
Tuy
nhiên, điều quan trọng nhất trong trình thuật sáng tạo Yawist về con người nằm
ở câu: “Con người ở
một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2:18). Con người ở một mình không tốt. Con
người cần một trợ tá. Nhưng con người không thể tìm thấy bất kỳ trợ tá nào
trong các tạo vật khác: “Đức Chúa là
Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người,
xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó
sẽ là thế. Con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú,
nhưng con người không tìm được cho mình
một trợ tá tương xứng” (St 2:19-20). Cuối
cùng con người chỉ tìm thấy trợ tá tương xứng nơi người nữ, một nhân vị khác
giống với mình: “Phen này, đây
là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được
gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra” (St 2:23). Thiên Chúa muốn nói gì qua điều này?
Ngài muốn nói rằng: Con người là một hữu thể có tính xã hội. Con người cần
người khác để trợ giúp mình. Tuy nhiên, trợ tá tương xứng để trợ giúp con người
không phải là những tạo vật “vô hồn,” nhưng là những “nhân vị được sinh động
bởi linh hồn bất tử.” Nhưng trong cuộc sống thường ngày, chúng ta chứng kiến
nhiều người trong chúng ta yêu “sự vật” hay “công việc” của mình hơn những
người anh chị em. Chúng ta xem những “con vật” hay “sự vật” như “bạn đồng hành”
không thể thiếu. Nhiều khi chúng ta nổi giận với anh chị em của mình khi họ làm
“tổn thương” con vật hoặc công việc chúng ta yêu thích. Khi làm như thế, chúng
ta đã hạ phẩm giá của anh chị em mình xuống thấp hơn giá trị của một “con vật”
hay “sự vật.” Tóm lại, chúng ta chỉ tìm thấy những trợ tá tương xứng nơi những
con người và sự cô đơn của chúng ta không thể bị phá huỷ bằng tương quan chúng
ta có với “con vật” hoặc “sự vật,” nhưng chỉ bằng tương quan lành mạnh với anh
chị em và nhất là tương quan với Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối tư tưởng trên qua cuộc
đối thoại giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Hy Lạp. Nếu chỉ đọc thoáng qua, chúng
ta thấy nó có cấu trúc của một trình thuật nói về việc Chúa Giêsu chữa bệnh.
Tuy nhiên, khi xem xét kỹ đoạn Tin Mừng này, chúng ta nhận ra điểm tập trung
nằm ở cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ “ngoại lai” này. Như chúng
ta biết, cuộc đối thoại xảy ra trong vùng đất của dân ngoại. Trong câu trả lời
trước thỉnh cầu của người phụ nữ chữa con mình, Chúa Giêsu có vẻ tỏ thái độ
loại trừ những người không phải là người Do Thái khỏi danh sách những người
được đón nhận ơn cứu độ mà Ngài mang đến. Đứng trước “câu nói có vẻ loại trừ”
của Chúa Giêsu, người phụ nữ bình tĩnh trả lời bằng cung giọng ‘nhẹ nhàng lên
án” cái nhìn loại trừ và chỉ ra rằng trong ý định của Thiên Chúa, những người
ngoại giáo cũng có chỗ trong kế hoạch cứu độ của Ngài. Câu trả lời của bà đưa
chúng ta trở về với ý định ban đầu của Thiên Chúa. Điều mà bài đọc 1 trong sách
Sáng Thế nhắm đến: Ngay từ ban đầu, người nam và nữ là những “trợ tá tương
xứng” của nhau, không phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo hoặc ngôn ngữ. Chi
tiết này chỉ cho chúng ta thấy những người mà Tin Mừng Thánh Máccô, muốn nhắm
đến, đó là những người không phải là người Do Thái. Đọc câu chuyện này, những
thính giả của Thánh Máccô xem nó là chính câu chuyện của họ: Họ tìm thấy chỗ
trong dân của Thiên Chúa. Còn mỗi người chúng ta thì sao: chúng ta đã tìm thấy
chỗ của chính mình trong trái tim của Chúa và trong trái tim của nhau chưa?
Một chi tiết khác trong bài Tin Mừng hôm nay mà
chúng ta có thể suy gẫm là sự việc người Do Thái thường coi những người dân
ngoại là “chó.” Đây là một từ chứa đựng một sự xúc phạm nặng nề. Điều này cũng
đúng ngay trong nền văn hoá việt nam của chúng ta. Tuy nhiên, trong bài Tin
Mừng, Thánh Máccô sử dụng từ “chó con” để làm giảm đi tính xúc phạm của nó.
Nhưng trong nghệ thuật của mình, khi sử dụng từ “chó con” để đặt vào miệng Chúa
Giêsu: “Phải để cho
con cái ăn no trước đã, vì không được lấy
bánh dành cho con cái mà ném cho chó con.” (Mc 7:27), Thánh Máccô muốn nói lên rằng: Chúa Giêsu
không chỉ thử niềm tin của bà, nhưng còn mở ra một con đường bà tìm thấy ý
nghĩa trong “lời nói có vẻ xúc phạm” của người khác. Và người phụ nữ hiểu được
điều đó liền nắm bắt cơ hội này và thưa với Chúa Giêsu một cách đầy ý nghĩa
rằng: “Thưa Ngài,
đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn
lại được ăn những mảnh vụn của đám trẻ nhỏ” (Mc 7:28). Bà dùng chính hình
ảnh “chó con – trẻ nhỏ” để đáp lại hình ảnh “con cái – chó con” của Chúa Giêsu.
Hình ảnh ăn những mảnh vụn dưới bàn được tìm thấy trong sách Thẩm Phán (1:7).
Trong câu trả lời của mình, người phụ nữ Hy Lạp không từ chối việc ơn cứu độ dành
cho người Do Thái (con cái), nhưng bà lên án việc loại bỏ dân ngoại (chó con)
khỏi ơn cứu độ của Thiên Chúa. Như vậy, trong câu nói này, bà khẳng định tính
cách phổ quát của ơn cứu độ của Chúa Giêsu: Chúa Giêsu không chỉ đem ơn cứu độ
cho dân Israel, nhưng còn cho mọi người. Chúng ta rút ra được điều gì từ ý
tưởng này? Những người có con tim không “loại trừ” người khác là những người có
khả năng tìm thấy “ý nghĩa” trong cái “vô nghĩa” và nhất là tìm thấy “sự khôi
hài của Thiên Chúa” trong “những xúc phạm của con người.”