Suy niệm Lời Chúa: Thứ Sáu tuần 5 Thường niên (năm lẻ)
HÃY MỞ LÒNG RA VỚI CHÚA
(St
3:1-8; Mc
7,31-37)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Bạn có phạm lỗi lầm bao giờ chưa? Tôi tin chắc rằng
bạn và tôi ai cũng đã phạm lỗi lầm hàng ngàn hàng vạn lần trong đời. Ngày hôm
qua, Thánh Vịnh đáp ca nói cho chúng ta về loại người được hạnh phúc, đó là những
người kính sợ Thiên Chúa. Còn trong Thánh Vịnh đáp ca ngày hôm nay, chúng ta
cũng tìm thấy một loại người khác cũng được hạnh phúc, đó là: “Hạnh phúc thay, kẻ lỗi
lầm mà được tha thứ.” Thật vậy, khi
phạm lỗi lầm với Chúa hoặc với người khác, chúng ta thường mất bình an và không
hạnh phúc. Nhiều khi chúng ta trốn chạy khỏi Thiên Chúa và người khác vì xấu hổ
như bài đọc 1 trình bày cho chúng ta: “Nghe thấy tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa đi dạo trong
vườn lúc gió thổi trong ngày, con người
và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt Đức Chúa là Thiên
Chúa” (St 3:8). Nhưng
khi làm hoà được với người mình đã xúc phạm, chúng ta thấy tâm hồn bình an và
chúng ta hưởng được niềm hạnh phúc dâng trào trong tâm hồn mà chúng ta luôn ao
ước và tìm kiếm.
Chủ đề lỗi phạm
được tìm thấy trong bài đọc 1 hôm nay và chủ đề chữa lành được tìm thấy trong
bài Tin Mừng. Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta cám dỗ và lỗi phạm đầu tiên
trong lịch sử con người. Lỗi phạm này được gọi là “Tội Nguyên Tổ.” Lỗi phạm
trong đời chúng ta luôn bắt đầu với việc khẳng định chính mình trước mặt Thiên
Chúa. Như chúng ta đã chia sẻ hai hôm trước [thứ tư], tự do của con người được
thể hiện qua mệnh lệnh: “Đức Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người
rằng: ‘Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của
cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn,
chắc chắn ngươi sẽ phải chết’” (St 2:16-17).
Mệnh lệnh này nói lên giới hạn của con người. Và đây cũng chính là điểm yếu của
con người mà ma quỷ sẽ dùng để cám dỗ. Chúng ta thấy con rắn bắt đầu như sau: “Có thật Thiên Chúa bảo: ‘Các ngươi không được ăn
hết mọi trái cây trong vườn’ không ?” (St 3:2). Nó chỉ thay lời của Thiên Chúa từ “hết mọi
trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn” thành “các ngươi không được ăn hết mọi trái
cây trong vườn.” Bà Evà lặp lại lời Thiên Chúa để trả lời: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được
ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: ‘Các ngươi không
được ăn, không được động tới, kẻo phải chết’” (St. 2-3). Chúng ta thấy chiến thuật của ma quỷ là
đi từ “hoàn toàn bị giới hạn, không có tự do” [‘không được ăn]. Khi bà Evà
khẳng định là con người có giới hạn, nhưng không hoàn toàn như một rôbốt, thì
ma quỷ dẫn bà đi sang thái cực ngược lại, đó là, con người không bị giới hạn.
Thiên Chúa chỉ lừa con người: “Chẳng chết
chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây
đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện
điều ác” (St 3:4-5). Ở
đây, chúng ta thấy rõ ràng rằng: Cám dỗ của ma quỷ là làm cho con người không
còn khiêm nhường để chấp nhận mình là một tạo vật có giới hạn hay đúng hơn là
“kiêu ngạo” để đi vượt qua giới hạn của mình. Nhìn từ khía
cạnh này, chúng ta có thể nói rằng: lỗi phạm lớn nhất của chúng ta là không
chấp nhận vẻ đẹp của riêng mình với những giới hạn và yếu đuối của nó.
Điểm thứ hai chúng ta có thể rút ra trong bài đọc 1
là bản chất của các cám dỗ trong đời sống thường ngày của chúng ta. Những cám
dỗ thường xuất hiện với vẻ bề ngoài thật đẹp và thường nhắm vào một nhu cầu
hiện tại cần được thoả mãn của chúng ta. Trong triết học, người ta gọi “cám dỗ”
là “sự thiện mang vẻ bề ngoài,” tức là, một sự vật tự bản chất là xấu, nhưng
xuất hiện với vẻ rất quyến rũ và đẹp. Chính vì không nhìn thấy bản chất của sự
vật và luôn chạy theo vẻ đẹp bề ngoài, nên con người dễ dàng “thấy trái cây đó: ăn thì phải ngon, trông thì đẹp
mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn” (St 3:6). Điều này nhắc nhở chúng ta phải cẩn thận
để không rơi vào “chước cám dỗ” bằng cách đừng để cho mình bị cuốn theo vẻ bề
ngoài, nhưng nhìn sự vật trong chính bản chất của nó với sự trợ giúp của ân
sủng Chúa.
Một điểm khác chúng
ta cần lưu ý là việc thay đổi trong thái độ của Adam và Evà trước và sau khi
phạm tội: Trước khi phạm tội, họ nhìn nhau trần truồng, nhưng không thấy xấu hổ
(x. St 2:25); còn sau khi phạm tội “mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm
khố che thân” (St 3:7). Chúng ta có thể
giải thích điều này theo nhiều chiều hướng khác nhau. Nhưng trong phạm vi của
bài chia sẻ này, điều chúng ta có thể suy gẫm là: Trước và sau khi phạm tội,
chắc chắn thân xác trần truồng của Adam và Evà không thay đổi. Điều duy nhất
thay đổi ở đây là “cách nhìn”: Trước khi phạm tội, “họ nhìn nhau trần truồng, nhưng không thấy xấu hổ; nhưng sau khi phạm
tội, “họ thấy mình trần truồng, họ mới kết lá
vả làm khố che thân.” Một sự thay
đổi từ “nhìn nhau” đến “nhìn mình.” Cuộc đời chúng ta chỉ trở nên đẹp, không
che đậy khi chúng ta biết “nhìn nhau” và giúp nhau, chứ không chỉ biết “nhìn
mình” và đóng kín trong chính mình. Cái nhìn rất quan trọng vì chúng ta nhìn
người khác thế nào sẽ quyết định thái độ của chúng ta đối với họ: Nếu chúng ta
nhìn với ánh mắt yêu thương, thì thái độ của chúng ta sẽ hiền dịu; còn nếu
chúng ta nhìn với ánh mắt ghen ghét, thì thái độ của chúng ta sẽ trở nên chua
chát. Hãy học để nhìn mọi người và mọi sự với ánh mắt đầy yêu thương của Thiên
Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta phép lạ
thứ hai Chúa Giêsu thực hiện trong lãnh thổ của dân ngoại. Ngày hôm qua, Chúa
Giêsu chữa người con gái của một phụ nữ Hy Lạp, và hôm nay Ngài chữa một người
điếc và ngọng. Như chúng ta đã trình bày hôm qua, ơn cứu độ Chúa Giêsu mang đến
là cho hết mọi người. Như vậy, Tin Mừng Ngài đem đến cũng phải được nghe và
công bố bởi muôn người. Đây chính là bối cảnh của bài Tin Mừng hôm nay: Chữa
người ngọng hoặc câm [để công bố] và điếc [để lắng nghe]. Phép lạ hôm nay có
thể được gọi là phép lạ “hãy mở ra”: “Rồi Người ngước mắt lên trời, thở dài và nói: Épphatha, nghĩa là: hãy mở ra! Lập tức tai
anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng” (Mc 7:34-35). Chúng
ta cũng cần được mở ra vì nhiều khi trong cuộc sống, chúng ta đóng tai và miệng
trước việc nghe và công bố niềm vui của ơn cứu độ. Hơn nữa, chúng ta không chỉ
đóng tai và miệng, mà chúng ta cũng đóng con tim của chúng ta lại trước tình
yêu vô biên của Thiên Chúa, trước việc đón nhận người khác vào trong con tim
của mình. Chúng ta cần Chúa chạm đến và mở tai để chúng ta nghe lời Ngài và đem
ra thực hành [không nghe những lời nói hành nói xấu nhau], mở mắt để chúng ta
nhìn thấy những kỳ công của Ngài, mở miệng để chúng ta nói tốt cho nhau [không
nói những điều mất lòng Chúa và mất lòng nhau], mở tay để chúng ta biết trao
ban, và mở con tim để chúng ta đón nhận, yêu thuơng và tha thứ cho những người
làm tổn thương chúng ta.
Điểm cuối cùng chúng ta quan tâm là việc Chúa Giêsu
cấm không cho người ta kể chuyện Ngài chữa người câm điếc. Điều này thường xảy
ra trong Tin Mừng của Thánh Máccô như chúng ta đã chia sẻ trước đây. Tuy nhiên,
trong bối cảnh hôm nay, khi Chúa Giêsu cấm không cho họ kể lại là Ngài có ý nói
cho họ biết rằng sứ vụ của Ngài không chỉ giới hạn bởi việc chữa bệnh. Đây chỉ
là một trong những khía cạnh của Đấng Messia mà Isaia nói đến mà họ trích dẫn: “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói
được” (Mc 7:37; x. Is
35:5-6). Điều này không đúng với chân tính mà Tin Mừng của Máccô muốn trình
bày. Theo Thánh Máccô, chân tính thật của Chúa Giêsu là Đấng được xức dầu [Đấng
Messia], là Con Thiên Chúa (Mc 1:1), Đấng được mặc khải trọn vẹn trên Thánh Giá
và trong sự phục sinh của Ngài (x. Mc 15:39). Điều này nhắc nhở chúng ta về một
thực tại trong cuộc sống: Chúng ta không thể đánh giá chân tính một con người
chỉ dựa vào một khía cạnh nào đó của cuộc sống họ. Chúng ta phải có toàn bộ bức
tranh của cuộc đời họ để có thể nói về họ một cách chính xác nhất. Người ta
thường nói: Chân tính của một con người không được tỏ lộ cách rõ ràng cho đến
khi người đó nhắm mắt xuôi tay. Như vậy, chúng ta đừng có thái độ kết án người
khác. Hãy kiên nhẫn chờ đợi và hãy giữ niềm hy vọng cho đến khi được cùng nhau
về thiên đàng thì mọi sự sẽ được tỏ lộ.