Suy niệm Lời Chúa: Thứ Bảy tuần 5 mùa Chay
HÃY
TRỞ NÊN NHÂN TỐ CỦA HIỆP NHẤT
(Ed 37:21-28;
Ga 11:45-57)
Lm. Antôn Nguyễn
Ngọc Dũng, SDB
Chia rẽ luôn đem lại nước
mắt và đau khổ. Chia rẽ giữa những người không quen biết thì không đau đớn cho
bằng chia rẽ giữa
những người trong cùng một gia đình: giữa chồng với vợ, giữa cha mẹ với con cái,
giữa con cái với nhau, hoặc giữa các thành viên trong cùng một cộng đoàn đời
tu. Trong lịch sử dân Israel, các con cái của Giacóp cũng bị chia rẽ thành hai
vương quốc, nhà Israel [gồm 10 chi tộc] và nhà Giuđa (gồm 2 chi tộc], trước và
sau thời gian trị vì của Davít và Solomon. Đây chính là bối cảnh đằng sau bài
đọc 1 hôm nay.
Niềm vui và bình an sẽ
được tái thiết khi sự chia rẽ được vượt thắng. Trong bài đọc 1 hôm nay, Ngôn sứ
Edêkien trình bày cho chúng ta về viễn cảnh Thiên Chúa sẽ quy tụ con cái Israel
tản mác khắp nơi khi bị lưu đày trở về. Không những thế, Ngài còn chữa lành vết
thương chia rẽ giữa họ để họ chỉ tôn thờ một mình Ngài. Ngài sẽ tha thứ lỗi lầm
của họ, sẽ thanh tẩy họ và nhắc lại cho họ giao ước Ngài đã ký kết với Ápraham,
tổ phụ của họ: “Ta sẽ cứu
chúng thoát khỏi mọi nơi chúng đã ở và đã phạm tội; Ta sẽ thanh tẩy chúng.
Chúng sẽ là dân của Ta; còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng” (Ed 37:22-23). Điều
này cho chúng ta thấy rằng, chỉ trong Thiên Chúa chúng ta mới có thể vượt qua
được bức tường chia rẽ và với ơn của Ngài những vết thương bị chia rẽ gây ra sẽ
được chữa lành.
Đề tài chia rẽ và quy tụ được Êdêkien trình bày
trong bài đọc 1 được tìm thấy sự hoàn thành trong hình ảnh của Đức Giêsu trong
bài Tin Mừng hôm nay. Ngay trong hai câu đầu tiên của bài Tin Mừng, chúng ta
nhận ra sự chia rẽ giữa những người Do Thái trước sự kiện Ladarô được Chúa
Giêsu cho sống lại: “Khi ấy, sau
khi ông Ladarô sống lại ra khỏi mồ, trong số những người Dothái đến thăm cô
Maria và được chứng kiến việc Đức Giêsu làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người. Nhưng lại có
những người đi gặp nhóm Pharisêu và kể cho họ những gì Đức Giêsu đã làm” (Ga 11:45-46). Sự chia rẽ này
cũng được lặp lại trong ba câu cuối cùng của bài Tin Mừng hôm nay: “Khi ấy sắp đến lễ Vượt Qua của người Do-thái. Từ
miền quê, nhiều người lên Giêrusalem để cử hành các nghi thức thanh tẩy dọn
mình mừng lễ. Họ tìm Đức Giêsu và đứng trong Đền Thờ bàn tán với nhau: ‘Có thể ông ấy
sẽ không lên dự lễ, các ông có nghĩ thế không?’ Còn các
thượng tế và người Pha-ri-sêu thì ra lệnh: ai biết được ông ấy ở đâu thì phải
báo cho họ đến bắt” (Ga 11:55-57). Điều này cho
thấy bài Tin Mừng hôm nay lại trình bày theo nghệ thuật viết kiểu “bánh mì
kẹp”: mở đầu và kết thúc với sự chia rẽ, và phần kẹp bên trong nói đến vai trò
“quy tụ” của Chúa Giêsu qua cái chết của Ngài.
Như chúng ta biết, việc làm cho Ladarô sống lại là
“dấu lạ” cuối cùng của Chúa Giêsu trong Tin Mừng của Thánh Gioan. Giống như những
dấu lạ khác trong Tin Mừng Thánh Gioan, dấu lạ cuối cùng này cũng gợi lên hai phản
ứng khác nhau nơi những người chứng kiến hoặc nghe kể về, một số
người Do Thái đón nhận và tin vào Chúa Giêsu, còn số khác thì tố cáo Ngài.
Chúng ta có thể rút được gì từ sự kiện này? Chúng ta có thể rút ra hai điều
sau để suy gẫm cho ngày sống của mình.
Thứ nhất, Chúa Giêsu bị kết án tử khi đem lại sự
sống cho người khác. Hay nói cách khác, để cho người khác được sống, Chúa Giêsu
phải chết: “Một người
trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng: ‘Các ông không
hiểu gì cả, các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là : thà một
người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt’” (Ga 11:49-50). Như vậy, Chúa Giêsu phải chết để
toàn dân được sống và hơn thế nữa, cái chết của Ngài có sức mạnh chiến thắng
chia rẽ để “quy tụ con cái Thiên
Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối”
(Ga 11:52). Điều này nhắc nhở chúng ta về việc chết làm sao cho
có ý nghĩa. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết: chết vì tai nạn, chết vì đau
ốm, chết vì già lão, v.v. Cũng có nhiều loại chết: chết cho đất nước, chết cho
người yêu hoặc người thân, hay chết cho chính mình. Nhiều lần trong cuộc sống,
chúng ta cũng bị người khác biến thành “con vật thế thân.” Chúng ta phải chấp
nhận bị kết án vì người khác. Giống như cây nến tiêu hao để chúng ta có được
ánh sáng, chúng ta được mời gọi để tiêu hao chính mình mỗi ngày để người khác
được sống. Để sống được như thế, chúng ta cần nhìn lên Đức Giêsu để học ở nơi
Ngài nghệ thuật sống và chết có ý nghĩa: đó là sống và chết cho người khác.
Trọn cuộc sống của chúng ta cho đến hơi thở cuối cùng là để chỉ làm một việc,
đó là, trở thành mối dây của sự hợp nhất. Liệu chúng ta có làm được điều này
không?
Thứ hai, chúng ta chỉ tìm thấy Chúa Giêsu trong nơi
thanh vắng. Sau khi bị các thượng tế và các người Pharisêu tìm cách giết, Chúa
Giêsu “không đi lại
công khai giữa người Do thái nữa; nhưng từ nơi ấy, Người đến một vùng gần
hoang địa, tới một thành gọi là Épraim. Người ở lại đó với các môn đệ” (Ga 11:54). Đọc những lời
này chúng ta không khỏi không đấm ngực ăn năn. Biết bao nhiêu lần, chúng ta
cũng giống như các thượng tế
và người Pharisêu, tìm cách giết Chúa Giêsu “bằng tội lỗi” của chúng ta, đến
nỗi Ngài không còn “hiện diện” cách công khai được. Sự hiện diện của Ngài trở
nên lu mờ trong cuộc đời của chúng ta. Hay nói đúng hơn, người khác không còn
thấy Chúa hiện diện trong cuộc đời của các môn đệ của Ngài. Từ những ý nghĩa trên, chúng ta nhận ra rằng: ở đâu có ghen ghét và
hận thù, ở đó Thiên Chúa không hiện diện. Thiên Chúa chỉ hiện diện ở những nơi
thanh vắng không có sự ồn ào của nói xấu nhau, không có sự ồn ào của tranh chấp
hơn thua, không có sự ồn ào của những con tim đi tìm sự an nghỉ trong của cải
chóng qua. Nói tóm lại, Chúa Giêsu chỉ hiện diện với các môn đệ của Ngài, những
người sống theo lời khuyên của Ngài: “cứ dấu này người ta sẽ nhận ra anh [chị]
em là môn đệ của Thầy, là anh [chị] em yêu thương nhau” (Ga 13:35).