Suy niệm Lời Chúa: Thứ Sáu tuần 30 Thường niên
LÀM VIỆC TỐT MỌI NƠI MỌI LÚC
(Rm 9:1-5;
Lc 14:1-6)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Trong bài đọc 1, Thánh Phaolô trình bày cho chúng
ta nghe nguyên nhân “nỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi” (Rm 9:2) của Ngài.
Ngài ưu phiền và đau khổ vì nhìn thấy anh chị em đồng bào của Ngài không tin
nhận Chúa Giêsu. Ngài sẵn sàng cam lòng bị nguyền rủa và xa lìa Đức Kitô miễn
sao các anh chị em của ngài là những người “đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban
tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa; họ là con
cháu các tổ phụ; và sau hết, chính Đức Kitô, xét theo huyết thống, cũng cùng
một nòi giống với họ” (Rm 9:4-5). Những lời này
giúp chúng ta nhận ra tâm tình của Thánh Phaolô là mong ước người DoThái nhận
ra rằng họ được đặc ân lớn lao, đó là Đức Kitô cũng cùng nòi giống với họ. Họ phải hãnh
diện vì được cùng chia sẻ cùng huyết thống với Ngài. Điều này cũng nhắc nhở
chúng ta về đặc ân lớn lao đã nhận được, đó là chúng ta cũng cùng huyết thống
với Đức Kitô vì mỗi khi chúng ta rước Ngài trong bí tích Thánh Thể, chúng ta
trở nên một với Ngài. Chúng ta không hãnh diện được trở nên một với Chúa Giêsu
sao? Nếu hãnh diện, sao chúng ta không sống một cuộc sống mới trong Ngài.
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta một sự
kiện khác về việc Chúa Giêsu chữa bệnh trong ngày sabát. Câu chuyện này rất đặc
trưng của Thánh Luca. Lần này việc chữa lành xảy ra trong nhà một thủ lãnh nhóm Pharisêu:
“Một ngày sabát kia, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ
lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa: họ cố dò xét Người” (Lc 14:1). Trong những lời này
chúng ta thấy mục đích mời Chúa Giêsu đến dùng bữa là để dò xét người. Thái độ
dò xét này cũng là thái độ chúng ta thường có với anh chị em mình. Nhiều khi chúng
ta dò xét bắt lỗi từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành động của anh chị em mình
để lên án. Cuộc sống sẽ nhẹ nhàng hơn khi chúng ta tìm niềm vui nơi sự hiện
diện của anh chị em mình hơn là để ý dò xét và bắt lỗi người khác. Một bữa ăn
ngon là bữa ăn với con tim rộng mở và tiếng cười chân thật chứ không phải với
ánh mắt dò xét và thái độ lên án.
Chi tiết đáng để chúng ta lưu ý là sự hiện diện của
người phù thũng trong bữa cơm: “Và kìa trước mặt Đức Giêsu, có một
người mắc bệnh phù thũng” (Lc 14:2). Sự
hiện diện của người phù thũng trong bữa tiệc là câu trả lời cho những vấn đề
đang xảy ra trong cộng đoàn Thánh Luca đang phải đối diện với những người
Pharisêu, đó là họ có nên ngồi đồng bàn với những người ô uế hay không (x. Lc
7:36-50); điều gì làm một người thanh sạch (x. 11:37-54); ai được mời đến ngồi
chung bàn với người Kitô hữu (x. Lc 14:1-24). Một cách cụ thể, sự hiện diện của
nguời mắc bệnh phù thũng ám chỉ việc mở rộng vòng tay đón nhận tất cả mọi người
vào trong bàn tiệc của người Kitô hữu. Điều làm chúng ta được thanh sạch hay
tôn vinh không phải là mình ngồi bàn với ai, nhưng là sự hiện diện của Chúa
Giêsu trong bàn tiệc. Chính Chúa Giêsu là Đấng làm cho chúng ta thanh sạch và
liên kết chúng ta lại trong tình yêu. Liệu chúng ta có để cho Chúa Giêsu ngồi
bàn khi chúng ta mời anh chị em mình đến dùng bữa với chúng ta không?
Trong bữa tiệc này không chỉ có người mắc bệnh phù
thũng mà còn cả những nhà thông luật và những người Pharisêu. Chúa Giêsu hỏi
họ: “Có được phép chữa bệnh ngày sabát
hay không?” (Lc 14:3). Là
những người biết luật rất rõ, nhưng trước câu hỏi của Chúa Giêsu, “họ làm
thinh.” Chúng ta biết chắc là các nhà thông luật biết luật rất chắc, nhưng họ làm thinh
có thể vì họ chưa đọc thấy điều này trong sách luật vì họ chỉ lưu tâm đến những
việc không được phép làm trong ngày sabát mà không hiểu ý nghĩa nằm sau những điều
cấm này. Việc thinh lặng của họ chỉ cho thấy chỉ mình Chúa Giêsu mới biết được
ý nghĩa đích thực của ngày sabát, ý nghĩa đích thực nằm sau những điều
cấm không được thực hiện, đó là để chúng ta có được tâm tình tạ ơn về những ơn
lành chúng ta đã nhận được [trong tuần] và chia sẻ những ơn lành đó cho anh chị
em mình. Nói cách khác, ngày sabát là để làm điều thiện, để giải phóng khỏi nô lệ
Xatan: “Người đỡ lấy bệnh nhân, chữa khỏi và
cho về.” Chúa Giêsu khẳng
định điều này trong câu hỏi: “Ai trong các ông có đứa con trai
hoặc có con bò sa xuống giếng, lại không kéo nó lên ngay, dù là ngày sabát?” (Lc 14:5). Chi tiết này ám chỉ
đến việc Chúa Giêsu là Chúa của ngày sabát. Và một lần nữa họ lặng thinh vì “không thể đáp lại những lời đó”
(Lc 14:6). Đến đây, họ lặng thinh có thể bây giờ họ mới hiểu
được ý nghĩa đích thật của ngày sabát. Chúng ta thế nào? Chúng ta sử dụng ngày
sabát (Chúa Nhật) để làm việc tốt, để nghĩ tốt, nói tốt cho anh chị em mình hay
chúng ta sử dụng những giờ rảnh (vì kiêng việc xác!) để nghĩ xấu, nói xấu và làm
những điều tổn thương anh chị em mình?