Bài giáo lý của Đức Thánh Cha (01.04.2025): Giáo dân là những viên đá sống động trong Giáo hội và chứng tá cho thế giới
Trong bài giáo lý tại buổi Tiếp kiến chung sáng thứ Tư, 1/4/2026, suy tư về chương IV của Hiến chế "Lumen gentium", chương nói về các giáo dân, Đức Thánh Cha Lêô XIV nhấn mạnh vai trò quan trọng mà giáo dân đóng góp trong sứ mạng của Giáo hội trong việc làm chứng cho Tin Mừng. Ngài mời gọi họ mang sự hiện diện của Chúa Kitô đến mọi lĩnh vực của cuộc sống, trở thành những môn đệ–thừa sai, những tông đồ của Tin Mừng, những chứng nhân của Nước Thiên Chúa, những người mang niềm vui của Đức Kitô.
Trích thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô
(4,1.4-5):
[Thưa anh em,] hãy sống cho xứng
với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. [...]. Chỉ có một thân thể, một
Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ
có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa.
Bài giáo lý của Đức
Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Chúng ta tiếp tục hành trình suy tư về Giáo Hội như
được trình bày trong Hiến chế Lumen gentium (LG) của Công đồng.
Hôm nay chúng ta bàn đến chương thứ tư, nói về giáo dân. Tất cả chúng ta đều nhớ
điều mà Đức Giáo hoàng Phanxicô thường nhắc lại: “Giáo dân rõ ràng là thành phần
đại đa số của Dân Chúa. Thành phần thiểu số - các thừa tác viên có chức thánh -
là để phục vụ giáo dân” (Tông huấn Evangelii gaudium, 102).
Sự bình đẳng của tất cả những người đã lãnh nhận
phép rửa tội
Phần này của văn kiện nhằm giải thích một
cách tích cực bản chất và sứ mạng của giáo dân sau nhiều thế kỷ họ chỉ
được định nghĩa cách đơn giản là những người không thuộc hàng giáo sĩ hay đời sống
thánh hiến. Vì thế, tôi muốn cùng anh chị em đọc lại một đoạn rất hay, diễn tả
sự cao cả của đời sống Kitô hữu: “Vậy chỉ có một đoàn dân ưu tuyển của Thiên
Chúa: ‘chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa’ (Ep 4,5); các chi thể có
chung phẩm giá vì được tái sinh trong Đức Kitô, cùng chung một ơn là con cái
Thiên Chúa và cùng chung một ơn gọi hướng tới sự hoàn thiện; chỉ có một ơn cứu
độ, một niềm hy vọng và một đức ái không phân chia” (LG, 32).
Trước bất cứ khác biệt nào về thừa tác vụ hay bậc sống,
Công đồng khẳng định sự bình đẳng của tất cả những người đã lãnh nhận phép rửa
tội. Hiến chế không muốn chúng ta quên điều đã được khẳng định ở chương nói về
Dân Thiên Chúa, đó là: thân phận và địa vị của dân thiên sai là phẩm giá và tự
do của con cái Thiên Chúa (x. LG, 9).
Nhờ Bí tích Rửa tội, các tín hữu giáo dân tham dự
vào chính chức tư tế của Đức Kitô
Dĩ nhiên, hồng ân càng lớn thì trách nhiệm càng
cao. Vì thế, cùng với phẩm giá, Công đồng cũng nhấn mạnh sứ mạng của giáo dân
trong Giáo Hội và trên thế giới. Nhưng sứ mạng này được đặt nền tảng ở đâu và hệ
tại điều gì? Chính định nghĩa về giáo dân mà Công đồng đưa ra đã nói rõ: “Hạn từ
giáo dân được hiểu là tất cả các Kitô hữu […] những người, được kết hợp với Đức
Kitô nhờ phép rửa tội và được làm thành dân Thiên Chúa, và được tham dự vào chức
năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của Đức Kitô theo cách thức của mình, đồng thời
góp phần thực hiện sứ mạng của toàn thể dân Kitô trong Giáo Hội và trên trần
gian” (LG, 31).
Như vậy, Dân thánh của Thiên Chúa không bao giờ là
một đám đông không định hình, nhưng là Thân Thể Đức Kitô, hay như thánh
Augustinô nói, là Christus totus (Đức Kitô toàn thể): một cộng
đoàn được tổ chức cách hữu cơ, nhờ mối tương quan phong phú giữa hai hình thức
tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô: chức tư tế chung của các tín hữu và chức
tư tế thừa tác (x. LG, 10). Nhờ Bí tích Rửa tội, các tín hữu giáo dân tham dự
vào chính chức tư tế của Đức Kitô. Thật vậy, “Đức Giêsu Kitô, vị Thượng tế tối
cao và đời đời, vì muốn cho việc làm chứng và phục vụ của chính Người luôn được
tiếp nối, nên đã thông ban cho người giáo dân sức sống nhờ Chúa Thánh Thần và
không ngừng thôi thúc họ thực thi mọi điều thiện hảo” (LG, 34).
Giáo hội hiện diện nhờ sự đóng góp, phục vụ và
chứng tá của giáo dân
Về điều này, có thể nào chúng ta không nhớ đến
Thánh Gioan Phaolô II và Tông huấn Christifideles laici (30/12/1988)?
Trong đó, ngài nhấn mạnh rằng “Công đồng, với kho tàng giáo lý, tu đức và mục vụ
vô cùng phong phú, đã dành những trang hết sức đẹp đẽ về bản chất, phẩm giá,
linh đạo, sứ mạng và trách nhiệm của các tín hữu giáo dân. Và các Nghị phụ Công
đồng, khi lặp lại lời kêu gọi của Đức Kitô, đã mời gọi tất cả giáo dân, nam
cũng như nữ, làm việc trong vườn nho của Người” (số 2). Như vậy, vị tiền nhiệm
đáng kính của tôi đã tái khởi động việc tông đồ giáo dân, điều mà Công đồng đã
dành riêng một văn kiện để bàn tới, và chúng ta sẽ nói đến sau này.[1]
Cánh đồng rộng lớn của việc tông đồ giáo dân không
chỉ giới hạn trong không gian của Giáo Hội, nhưng mở rộng ra toàn thế giới. Thật
vậy, Giáo Hội hiện diện ở bất cứ nơi nào con cái mình tuyên xưng và làm chứng
cho Tin Mừng: nơi môi trường làm việc, trong xã hội dân sự và trong mọi tương
quan của con người, nơi mà qua những lựa chọn của mình, họ biểu lộ vẻ đẹp của đời
sống Kitô hữu, vốn báo trước ở đây và ngay từ bây giờ công lý và hòa bình sẽ được
viên mãn trong Nước Thiên Chúa. Thế giới cần “được thấm nhuần Thần Khí của Đức
Kitô và đạt tới mục đích của mình cách hiệu quả hơn trong công lý, bác ái và
hòa bình” (LG, 36). Và điều đó chỉ có thể thực hiện nhờ sự đóng góp, phục vụ và
chứng tá của giáo dân!
Một Giáo Hội nhập thể trong lịch sử
Đó là lời mời gọi trở thành một Giáo Hội “đi ra”,
như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói: một Giáo Hội nhập thể trong lịch sử, luôn mở
ra với sứ vụ, trong đó tất cả chúng ta được kêu gọi trở thành những môn đệ–thừa
sai, những tông đồ của Tin Mừng, những chứng nhân của Nước Thiên Chúa, những
người mang niềm vui của Đức Kitô mà chúng ta đã gặp gỡ!
Anh chị em thân mến, xin cho lễ Phục Sinh mà chúng
ta sắp cử hành canh tân trong chúng ta ân sủng được trở nên, như Maria
Mađalêna, như Phêrô và Gioan, những chứng nhân của Đấng Phục Sinh!
Buổi Tiếp kiến kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép
lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.
---
[1] X. Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Apostolicam
actuositatem (18/11/1965).