Suy niệm Lời Chúa: Thứ Tư tuần 26 Thường niên năm chẵn
CHÚNG TA THEO CHÚA GIÊSU VỚI THÁI ĐỘ THẾ NÀO?
(G 9:1-12.14-16; Lc 9:57-62)
Lm. Antôn
Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Bài đọc 1
hôm nay trích từ sách Nơkhemia. Bài đọc thuật lại cuộc đối thoại của Nơkhemia
và Vua Ác-tắc-sát-ta. Câu chuyện dạy chúng ta về
mối tương quan chủ-tớ. Chúng ta thấy vua Ác-tắc-sát-ta có sự tinh tế về việc quan sát những người thuộc quyền mình. Nói một
cách khác, đức vua quan tâm đến từng người tôi tớ của mình. Khi thấy Nơkhemi
buồn, vua đã hỏi thăm và tận tình giúp cho Nơkhemia tìm lại được niềm vui và ý
nghĩa trong những buồn sầu của mình. Chúng ta cùng nhau thuật lại cuộc đối
thoại này:
Vua Ác-tắc-sát-ta: “Sao mặt khanh buồn rầu thế? Khanh
có đau ốm gì đâu! Hẳn trong lòng phải có chuyện chi buồn lắm!”
Nơkhimia:
“Đức vua vạn vạn tuế! Sắc mặt của thần không buồn sao được, khi mà thành đô,
nơi tổ tiên của thần an nghỉ, đã ra hoang tàn, và cửa thành bị thiêu
huỷ.”
Vua Ác-tắc-sát-ta:
“Vậy khanh muốn gì?”
Nơkhimia:
“Nếu đẹp lòng đức vua và nếu bề tôi của ngài là người vừa ý ngài, thì xin cử
thần đi Giu-đa, đến thành có phần mộ của tổ tiên thần để xây dựng lại.”
Vua Ác-tắc-sát-ta: “Khanh đi bao lâu? Bao giờ mới trở
lại?”
Nơkhimia:
“Nếu đẹp lòng đức vua, thì xin hạ lệnh cấp chiếu thư cho thần đem tới các
trưởng Vùng bên kia sông Êu-phơ-rát, để họ cho phép thần đi qua đó đến tận
Giu-đa. Cũng xin một chiếu thư cho ông A-xáp, quản đốc ngự lâm, để ông cấp
gỗ cho thần làm khung cửa đồn luỹ ở sát Đền Thờ, làm tường thành và làm nhà cho
thần đến ở.”
Vua ban cho tôi như thế, vì bàn tay nhân lành của
Thiên Chúa tôi che chở tôi.
Trong cuộc
sống của chúng ta, liệu chúng ta có được sự nhạy cảm và tận tuỵ giúp đỡ anh chị
em mình như vua Ác-tắc-sát-ta không?
Chúng ta nhận thấy có sự khác biệt trong bài đọc 1
và bài Tin Mừng hôm nay về những đòi hỏi cho những người được gọi. Trong bài
đọc 1, Ngôn sứ Êlia cho phép Êlisa về nhà chào tạm biệt những người thân. Còn
trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu không cho phép những người theo Ngài làm điều
đó. Đâu là lý do? Đó là “khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời, Người
nhất quyết đi lên Giêrusalem” (Lc 9:51). “Đã đến ngày” nói lên sự khẩn cấp sứ mệnh của Chúa Giêsu. Như chúng ta
biết, đối với Thánh Luca, Giêrusalem là trung tâm nơi Chúa Giêsu kết thúc sứ
mệnh trên trần thế của mình; Giêrusalem cũng là nơi các Tông Đồ [Giáo Hội tiên
khởi] bắt đầu sứ mệnh rao giảng của mình. Chỉ trong “bối cảnh khẩn cấp” của
việc “kết thúc” và “bắt đầu” sứ mệnh này mà chúng ta hiểu những lời của Chúa
Giêsu.
Để chuẩn bị cho sự kiện Ngài lên Giêrusalem, Chúa
Giêsu “sai mấy sứ giả đi
trước. Họ lên đường và vào một làng người Samari để chuẩn bị cho Người đến” (Lc 9:52). Hành trình của Chúa Giêsu phải đi qua làng Samaria, nhưng vì Ngài đang đi về
hướng Giêrusalem nên dân làng không đón tiếp Ngài (x. Lc 9:53). Hình ảnh “không
đón tiếp” này dường như hoàn toàn trái ngược với hình ảnh mà Thánh Luca vẽ lên
khi nói đến người Samaria. Như chúng ta biết, Thánh Luca thuật lại việc Chúa
Giêsu dùng dụ ngôn người Samaria nhân hậu trong chương kế tiếp để dạy các môn
đệ (Lc 10:25-37), người Pharisêu và kinh sư về lòng nhân từ. Lý do mà người
Samaria không đón tiếp Chúa Giêsu đơn giản là vì Ngài đang trên đường lên
Giêrusalem. Thái độ không đón tiếp của người Samaria trở thành lý do để “hai môn đệ Người là ông Giacôbê và ông Gioan nói
rằng: ‘Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời
xuống thiêu huỷ chúng nó không?’ Nhưng Đức
Giêsu quay lại quở mắng các ông. Rồi Thầy trò đi sang làng khác” (Lc 9:54-56). Chúa Giêsu khuyến cáo các môn đệ không theo bản tính tự nhiên của mình
để đáp trả người khác. Nhưng phải luôn tìm thánh ý Thiên Chúa. Việc Ngài lên
Giêrusalem là ý muốn của Cha Ngài. Chi tiết này cho thấy Chúa Giêsu thực hiện
những điều Ngài dạy các môn đệ ngay trong những câu đầu tiên của chương 9 này
(x. Lc 9:1-6).
Sau khi quở trách hai môn đệ, Chúa Giêsu tiếp tục
hành trình lên Giêrusalem. Trong bối cảnh “đang trên đường,” Thánh Luca trình
thuật cho chúng ta về câu chuyện của ba người [đại diện cho ba loại người] muốn
theo Chúa Giêsu. Chúng ta cùng nhau phân tích “ơn gọi” của ba người này để xem
mình thuộc vào nhóm nào.
Người thứ nhất mong ước theo Chúa Giêsu nên “chủ
động” đến nói với Ngài: “Thưa Thầy, Thầy
đi đâu, tôi cũng xin đi theo.” Đứng trước lòng thành của anh,
Chúa trả lời: “Con chồn
có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9:57-58). Người thứ nhất
đại diện cho những người mong ước theo Chúa Giêsu, nhưng điều họ quan tâm nhất
là “nơi chốn” [“Thầy đi đâu, tôi cũng
xin theo”]. Việc họ theo Chúa mang “đặc tính địa lý.” Chúa Giêsu đáp lại bằng
việc khẳng định cho họ rằng: việc theo Ngài không mang đặc tính địa lý, nhưng
mang đặc tính “nội tâm,” đó là “không có chỗ tựa đầu” – luôn luôn trên hành
trình. Như vậy, điều quan trọng trong hành trình theo Chúa không hệ tại ở việc
mình ở đâu, nhưng hệ tại ở việc con tim của mình được Chúa chiếm lấy và được cùng đi với Ngài.
Người thứ hai được chính Chúa Giêsu “chủ động” mời
gọi: “Anh hãy theo
tôi!” Nhưng anh ta do
dự vì còn luyến tiếc với người thân đã khuất: “Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi
trước đã.” Đứng
trước do dự của anh, Chúa Giêsu khuyên anh: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh
hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa” (Lc 9:59-60). Người thứ hai đại diện cho những người được gọi, nhưng lại
do dự vì sự níu kéo của tình cảm tự nhiên. Chúa Giêsu mời gọi anh vượt qua tình
cảm tự nhiên để đạt đến một mối tương quan siêu nhiên với Thiên Chúa. Chúa
Giêsu không có ý xem thường tình cảm tự nhiên. Ngài chỉ muốn nói đến tầm quan
trọng của việc loan báo Nước Trời [vị trí tối thượng của tương quan với Thiên
Chúa] so với tình cảm tự nhiên của con người.
Người thứ ba “chủ động” muốn theo Chúa, nhưng lại ra
điều kiện với Ngài: “Thưa Thầy, tôi
xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi
từ biệt gia đình trước đã.” Đứng trước điều kiện của anh [hay sự nửa vời của lòng anh], Chúa Giêsu muốn
anh phải dứt khoát: “Ai đã tra tay cầm
cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” (Lc 9:61-62). Người thứ ba đại
diện cho những người muốn theo Chúa Giêsu, nhưng lại muốn những ước muốn riêng mình cần
được hoàn thành trước. Đa số chúng ta thuộc loại thứ ba này. Chúng ta sẵn sàng
theo Chúa Giêsu, nhưng lại muốn Ngài cho phép chúng ta làm một số việc mà chúng
ta thích. Thay vì khi đi theo Chúa, chúng ta phải theo “thời khoá biểu” của
Ngài, thì chúng ta lại có một thời khoá biểu của riêng mình song song với thời
khoá biểu của Chúa. Hơn nữa, chúng ta lại muốn thời khoá biểu của mình được
thực hiện trước. Khi đi theo một ai, chúng ta không nên để mình bị chi phối bởi
những “hành trình” khác, vì khi làm như thế, chúng ta sẽ dễ dàng lạc mất người
chúng ta đang theo. Hãy tập trung vào Chúa Giêsu khi đi theo Ngài. Đừng ngoái
lại phía sau mà để
“mất dáng” Ngài.
Điểm cuối cùng chúng ta cần lưu ý trong bài Tin Mừng
là lối viết “bánh mì kẹp”: Bắt đầu và kết với hai người “muốn được theo Chúa
Giêsu.” Điều khác biệt là người đầu tiên không đặt điều kiện, còn người cuối
đặt điều kiện. Người đầu nói về “nơi chốn,” còn người cuối chỉ đơn giản nói
“theo thầy” mà không quan tâm đến nơi chốn. Tuy nhiên, cả hai đều có giới hạn
riêng của mình. Người đầu bị giới hạn
bởi “địa lý,” còn người cuối bị giới hạn bởi “tình cảm gia đình” [tình cảm con
người]. Chúng ta không biết ba người này có theo Chúa hay không. Đây là lối kết
lửng mà Thánh Luca thường sử dụng vì Ngài muốn chính người nghe sẽ là người kết
thúc câu chuyện. Một cách cụ thể, đây là câu chuyện về cuộc đời của mỗi người
trong chúng ta. Có người muốn theo Chúa, nhưng lại muốn đến những nơi mình
muốn; có người được gọi, nhưng lại vương vấn không dứt khoát với các quan hệ
con người; có người muốn theo, nhưng lại đặt điều kiện với Chúa. Chúng ta thuộc
loại nào? Nếu được gọi, chúng ta có dứt khoát đi theo Chúa Giêsu không?