Suy niệm Lời Chúa: Thứ Sáu tuần IV mùa Chay
CHÚNG TA BIẾT CHÚA GIÊSU
KHÔNG?
(Kn 2:1a.12-22; Ga 7:1-2.10.25-30)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc
Dũng, SDB
Lời Chúa trong thánh vịnh đáp ca hôm nay đem lại một
sự an ủi thật dịu êm và nhẹ nhàng cho những tấm lòng tan vỡ vì tội lỗi: “Chúa gần gũi những tấm
lòng tan vỡ,
cứu những tâm thần thất vọng ê chề” (Tv 33:19). Hãy luôn tâm niệm rằng: Chúa
luôn gần chúng ta, ngay cả khi chúng ta tội lỗi.
Hai bài đọc hôm nay được nối kết với nhau bởi chữ
“biết.” Khi nói đến cái “biết”, chúng ta cần phân biệt hai loại biết sau đây: “biết về” một ai đó hoặc một cái gì đó và “biết đích thân” một ai đó hay một vật gì đó. Loại “biết” thứ nhất không cần phải có sự
gặp gỡ trực tiếp giữa người biết và đối tượng được biết. Loại “biết” này là biết mang tính cách “gián tiếp” qua sách vở, qua người khác, qua
các phương tiện truyền thông; còn loại “biết” thứ hai đòi buộc phải có sự
gặp gỡ cá vị giữa người biết và đối tượng được biết. Đây là loại “biết” mang tính cách trực tiếp. Trong hai loại biết này, loại thứ hai chắc
chắn hơn loại thứ nhất vì nó được xây dựng trên “kinh nghiệm gặp gỡ trực tiếp.”
Chúng ta sẽ suy gẫm hai bài đọc lời Chúa hôm nay dưới lăng kính hai loại “biết” này để xem mình đang biết Chúa theo loại nào.
Trong bài đọc 1, tác giả sách Khôn Ngoan nói về cái
biết của “quân vô đạo,” cái biết mà dẫn họ đến “suy tính sai lầm.” Đây là cái
biết của những người “biết về” Thiên Chúa, chứ không “biết Thiên Chúa.” Đâu là
những đặc tính để nhận ra những người chỉ “biết về” Thiên Chúa? Những người chỉ
“biết về” Thiên Chúa là những người chỉ theo Thiên Chúa bằng môi bằng miệng,
con lòng họ thì xa Thiên Chúa; họ là những người vui thích nói về Chúa, nhưng
không sống theo những mệnh lệnh của Ngài (x. Kn 2:13); những người chỉ “biết
về” Thiên Chúa là những người có lối sống và “lối cư xử hoàn toàn lập dị” (Kn 2:16); cuối cùng, những người chỉ biết
về Thiên Chúa, là những người luôn tìm cách hãm hại người công chính. Điểm cuối
cùng này là điểm nối kết bài đọc 1 với bài Tin Mừng: “Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm.” (Kn 2:18-20).
Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta tìm thấy hình
ảnh người công chính bị kết án do những người “nghĩ” mình biết Thiên Chúa, nơi hình ảnh Chúa
Giêsu. Sau khi “bị nộp” bởi người bị bệnh được chữa lành ở hồ Bếtdatha, Chúa Giêsu không còn đi lại cách công khai
trong miền Giuđê vì “người Do Thái tìm giết Người,” nên Ngài phải đi lại cách
bí mật (Ga 7:1-2). Tuy nhiên, chúng ta thấy Chúa Giêsu can đảm đối diện với sự
chống đối qua những lời lẽ thật hùng biện của Ngài. Đề tài về ban sự sống và xét
xử, đề tài về phạm luật ngày Sabát và việc đặt mình ngang hàng với Thiên
Chúa đã nhường chỗ cho đề tài về nguồn gốc của Chúa Giêsu.
Chính đề tài về nguồn gốc này giúp
chúng ta phân biệt được hai loại biết: “biết về “Thiên Chúa của người Do Thái và “biết Thiên
Chúa” của Chúa Giêsu.
Cái biết của người Do Thái về Chúa Giêsu được tìm thấy trong câu: “Ông ấy, chúng ta biết ông
xuất thân từ đâu rồi; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người
xuất thân từ đâu cả” (Ga
7:27). Đây là một cái biết dựa trên sự “quan sát thể lý.” Điều này thường xảy ra
cho chúng ta trong cuộc sống. Chúng ta thường dựa vào cái biết mang tính thể lý
mà chúng ta đạt được qua giác quan để đánh giá một con người hoặc sự kiện. Tuy
nhiên, cái biết này chỉ giới hạn ở những gì bên ngoài, còn những gì kín ẩn bên
trong chúng ta không thể biết. Để biết một sự vật hoặc một con người, chúng ta
cần cả cái nhìn bên ngoài và bên trong. Chỉ khi có được cái nhìn như thế, chúng
ta mới có thể nói rằng, chúng ta đã biết. Cũng vậy, chúng ta chỉ biết Thiên
Chúa [Chúa Giêsu] khi chúng ta không chỉ “nghe lời Ngài” [biết thể lý], nhưng
còn “đem ra thực hành” [biết của nội tâm hoá].
Chúa Giêsu phê bình cái biết của người Do Thái
về Thiên Chúa và trình bày cái “biết Thiên Chúa” của Ngài: “Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giêsu nói lớn tiếng
rằng: “Các ông biết tôi ư? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư? Tôi đâu có tự
mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết
Người. Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính
Người đã sai tôi” (Ga 7:28-29). Chúa Giêsu chỉ
ra cái sai trong cái biết của những người Do Thái, đó là, họ chỉ dừng lại ở “nguồn
gốc con người” của Chúa Giêsu: nguồn gốc mà họ có thể quan sát bằng con mắt thể
lý. Họ không biết “nguồn gốc Thiên Chúa” của Ngài, vì nguồn gốc thần linh này chỉ có thể quan sát bằng “con mắt đức tin”. Cái biết của Chúa Giêsu khác với
các biết của người Do Thái ở chỗ là: Ngài và Chúa Cha là một. Điều này được
diễn tả qua tương quan của Ngài như “Người được sai” và Chúa Cha như “Người
sai.” Tương quan giữa người sai và người được sai là tương quan không thể tách
rời. Nói cách khác, sẽ không có người được sai nếu không có người sai và ngược
lại, sẽ không có người sai nếu không có người để được sai. Như vậy, chính tương
quan không thể tách rời này làm cho cái biết của Chúa Giêsu về Thiên Chúa khác
với cái biết của người Do Thái. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng: Chúng ta chỉ
có thể “biết Thiên Chúa [Chúa Giêsu] cách cá vị” khi chúng ta có mối tương quan
không thể tách rời với Ngài.
Bài Tin Mừng hôm nay kết thúc với câu quen thuộc của
Thánh Gioan: “Bấy giờ họ tìm cách bắt
Người; nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ
của Người chưa đến” (Ga
7:30). Giờ của Chúa Giêsu chưa đến! Điều này có nghĩa là
gì? Điều này có nghĩa là cuộc đời và sứ mệnh của Chúa Giêsu không thể được định đoạt bằng bất kỳ con người hay bất kỳ yếu tố con người nào,
nhưng chính Chúa Cha là Người định đoạt mọi sự. Giờ của Ngài được tôn vinh trên
thập giá cũng được Chúa Cha quyết định. Không có gì xảy ra trong cuộc đời của
Chúa Giêsu mà không có bàn tay đầy yêu thương của Chúa Cha. Cuộc đời của chúng
ta thế nào? Chúng ta có để cho Chúa định đoạt và hướng dẫn cuộc đời của chúng
ta không? Cám dỗ lớn nhất trong cuộc đời của chúng ta là việc chúng ta tự định
đoạt về “giờ” của mình, tức là, làm theo điều chúng ta muốn hơn là làm theo
thánh ý Thiên Chúa. Hãy để Thiên Chúa thực hiện “giờ” của Ngài trên cuộc đời chúng ta và mang giờ đó đến sự hoàn thành trong vinh quang của Ngài hơn
là tự mình thực hiện “giờ” của chúng ta và chiếm lấy vinh quang cho chính mình.