Suy niệm Lời Chúa: Thứ Hai tuần 24 Thường niên năm B
HÃY YÊU VỚI MỘT TÌNH YÊU KHÔNG GIỚI HẠN
(1 Cr
11:17-26.33; Lc 7:1-10)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc
Dũng, SDB
Bài đọc 1 được các học giả Kinh
Thánh xem là bản văn “cổ nhất” trình bày cho chúng ta về việc Chúa Giêsu thiết
lập Bí Tích Thánh Thể. Những lời được ghi lại bởi Thánh Phaolô trở thành lời truyền phép mà chúng ta thường nghe trong mỗi
thánh lễ. Điểm quan trọng nhất trong bài đọc 1 mà chúng ta thường không để ý
đến là câu mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta: “‘mỗi khi uống, anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ
đến Thầy.’ Thật vậy, cho
tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa
đã chịu chết” (1Cor 11: 25-26). Khi đọc những lời này, chúng
ta thường nghĩ rằng Chúa Giêsu muốn chúng ta lập lại nghi thức bẻ bánh, tức là
nghi thức trong phụng vụ Thánh Thể. Điều này không sai. Nhưng khi Chúa Giêsu
nói những lời này, Ngài muốn chúng ta “làm việc này,” tức là phải đổ máu mình
ra cho anh chị em mình: chồng hy sinh cho vợ, vợ hy sinh cho chồng, cha mẹ hy
sinh cho con cái, con cái hy sinh cho cha mẹ và cho nhau, v.v. Chính qua những
hy sinh nhỏ bé hằng ngày mà chúng ta “loan truyền Chúa đã chịu chết” cho chúng
ta để rồi đến phiên mình, chúng ta cũng chết cho anh chị em của mình.
Bài Tin Mừng hôm nay bắt đầu
trình bày cho chúng ta về sứ điệp của Chúa Giêsu về Nước Thiên Chúa là cho mọi
người [cả nam lẫn nữ] và đánh sập mọi bức tường ngăn cách của vấn đề sạch và ô
uế (x. Lc 7:1-9:6). Nói cách cụ thể hơn, phần này nêu bật việc Chúa Giêsu vượt
qua những hàng rào chia cách sự thanh sạch với ô uế để khôi phục lại sự sống và
sự hiệp thông trong cộng đoàn cho những thành viên bị loại trừ. Điều này được
bắt đầu trong câu chuyện chữa lành người đầy tớ của viên đội trưởng. Trong câu
chuyện này, Thánh Luca trình bày cho chúng ta về việc người “dân ngoại ô uế” mở
rộng cõi lòng cho sứ điệp của Chúa Giêsu về Nước Thiên Chúa. Theo các học giả
Kinh Thánh, câu chuyện này là dấu hiệu báo trước về sứ mạng của Kitô giáo hướng đến với thế giới của dân ngoại. Trong câu chuyện này, Thánh Luca tập
trung vào đề tài “ai là người xứng đáng để đón nhận những lợi ích” từ Chúa
Giêsu, Đấng được xem là “ngôn sứ” trong Israel (x. Lc 7:16).
Ngoài Chúa Giêsu, trong bài Tin
Mừng có hai “nhân vật” chúng ta cần lưu ý đó là viên đại đội trưởng và các kỳ
mục. Chúng ta cùng nhau phân tích thái độ của họ hầu học nơi họ những điều cần
thiết cho việc đáp trả lại sứ điệp Nước Thiên Chúa. Trước tiên là viên đại đội
trưởng. Ông ta là một người dân ngoại, có thể là người được vua Hêrôđê Antipas
thuê làm việc. Chúng ta sẽ hiểu câu chuyện này khi đọc nó song song với câu
chuyện được Thánh Luca trình thuật trong sách Công Vụ Các Tông Đồ về người dân
ngoại đầu tiên tin vào Chúa cũng là viên đại đội trưởng tên là Cornelius (x. Cv
10). Tin Mừng trình bày cho chúng rằng, dù là một người dân ngoại, không có
quan hệ gì với người Do Thái [đôi khi có lẽ là kẻ thù], “ông quý mến dân ta
[dân Israel]” và “ông đã xây cất hội đường cho chúng ta” (Lc 7:5). Ông đã vượt
qua khuynh hướng tự nhiên, đó là nghĩ đến chính mình và dân riêng của mình.
Tình yêu ông mở rộng cho những người không có liên quan máu thịt với ông. Ông
quý mến người đầy tớ đang bị bệnh nặng và mong muốn người đầy tớ được chữa
lành. Chính tình yêu “cho những người không thuộc về máu mủ” của mình đã đưa ông đến với
Chúa Giêsu. Hay nói cách khác, chính trong tình yêu của viên đại đội trưởng,
chúng ta nhìn thấy tình yêu không phân biệt và vô điều kiện của Thiên Chúa được
diễn tả qua Đức Giêsu. Tình yêu của viên đội trưởng thách đố chúng ta, những
người tự xưng là những người “có đạo” hay “ngoan đạo.” Chúng ta vẫn thường giới
hạn tình yêu của mình vào một nhóm người chúng ta cảm thấy “thoải mái” với. Đối
diện với viên đại đội trưởng, chúng ta được mời gọi ra khỏi giới hạn của tình
yêu, để yêu với một tình yêu vô hạn và vô điều kiện của Chúa Giêsu.
“Nhân vật” thứ hai chúng ta suy
gẫm là “mấy kỳ mục của người Do Thái.” Đây là nhóm đầu tiên trong hai nhóm mà
viên đại đội trưởng sai đến với Chúa Giêsu. Công việc những người này làm là “đến gặp Đức Giêsu và khẩn khoản nài xin Người rằng: ‘Thưa Ngài, ông ấy đáng được Ngài làm ơn cho. Vì ông quý mến dân ta. Vả lại chính ông đã xây
cất hội đường cho chúng ta’” (Lc 7:4-5). Hành động của họ dàn cảnh cho đề tài về việc ai sẽ là
người xứng đáng để đón nhận ơn cứu độ từ Chúa Giêsu. Hệ quả chúng ta thấy là,
các kỳ mục nói: Bởi vì tất cả những gì viên đại đội trưởng làm cho dân, chúng
ta không nên xem ông như một người dân ngoại, như vậy, ông không ở ngoài phạm
vi của phép lành mà Chúa Giêsu ban cho dân Israel. Nói cách khác, các kỳ mục
cho rằng ông xứng đáng để nhận được ơn phúc từ Chúa Giêsu. Hình ảnh các kỳ mục
mời gọi chúng ta có một cái nhìn rộng mở để đón nhận tất cả những người mà
chúng ta nghĩ là không thánh thiện, không xứng đáng để đón nhận tình yêu của
Chúa. Chúng ta phải cầu nguyện cho họ để họ cũng được hưởng những gì mà Chúa
ban cho chúng ta, đó là ơn cứu độ.
Đến đây, chúng ta trở lại với
viên đại đội trưởng. Trước việc các kỳ mục cho rằng ông xứng đáng để nhận được
ơn phúc từ Chúa Giêsu, viên đại đội trưởng không nghĩ mình xứng đáng nhận được ơn
phúc đó, nên “khi Người còn cách
nhà viên sĩ quan không bao xa, thì ông này cho bạn hữu ra nói với Người: ‘Thưa Ngài, không dám phiền Ngài quá như vậy, vì tôi
không đáng rước Ngài vào nhà tôi. Cũng vì thế, tôi không nghĩ mình xứng
đáng đến gặp Ngài. Nhưng xin Ngài cứ nói một lời, thì đầy tớ của tôi được khỏi
bệnh. Vì chính tôi đây, tuy dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có lính tráng
dưới quyền tôi. Tôi bảo người này: ‘Đi!’ là nó đi; bảo người kia: ‘Đến!’ là nó
đến; và bảo người nô lệ của tôi: ‘Làm cái này!’ là nó làm.” (Lc 7:6-8). Trong những lời
này, viên đại đội trưởng chân nhận rằng ông không phải là một người thánh thiện
hoặc tốt lành như người khác nghĩ mà xứng đáng để Chúa Giêsu đến nhà và như thế
lỗi phạm luật thanh sạch. Sử dụng
lối loại suy từ kinh nghiệm của mình, ông chân nhận rằng Chúa Giêsu có quyền
lực trên sự chết. Chỉ lời của Chúa Giêsu cũng đủ để phục hồi sức khỏe cho người
đầy tớ. Thái độ này của viên đại đội trưởng chỉ cho chúng ta một sự thật rằng:
ơn cứu độ là một món quà nhưng không của Thiên Chúa. Nó không lệ thuộc vào sự
“xứng đáng” của một người, nhưng nó hệ tại tình yêu của Thiên Chúa.
Đứng trước sự khiêm nhường của
viên đại đội trưởng, Chúa Giêsu đã dùng ông làm gương sáng cho tất cả những
người Do Thái [và cho chúng ta]: “Tôi nói cho các
ông hay: ngay cả trong dân Israel, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin
mạnh như thế” (Lc 7:9). Trong những lời này, Chúa Giêsu khẳng định rằng, viên đại đội
trưởng xứng đáng với sự quan tâm của Ngài không phải vì ông đã làm nhiều việc
tốt cho dân Israel, nhưng ông tin rằng Thiên Chúa, qua Đức Kitô đã chiến thắng
sự chết. Đức tin không mong chờ của ông đối nghịch với đức tin của những người
được mong chờ phải tin, nhưng lại không tin. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng
ta cũng làm nhiều việc tốt và chúng ta nghĩ mình tốt hơn người khác, xứng đáng
hơn người khác để được ơn cứu độ. Khi làm như vậy, chúng ta làm việc tốt chỉ để
so sánh mình với người khác, chứ chúng ta không làm việc tốt như là lối diễn tả
đức tin và tình yêu của mình cho Thiên Chúa. Hãy dừng thái độ làm việc tốt để
so sánh, để cho mình tốt hơn, thánh thiện hơn người khác. Nhưng hãy làm mọi
việc tốt như là sự diễn tả cách chân thật đức tin, tình yêu, và niềm hy vọng
của mình vào Chúa Giêsu.