Suy niệm Lời Chúa: Thứ Năm tuần 24 Thường niên
ĐƯỢC THA NHIỀU NÊN YÊU NHIỀU
(1 Tm 4:12-16; Lc 7:36-50)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Trong đời sống thường
ngày, chúng ta
thường
nghe nói rằng: Tuổi trẻ bồng bột hay tuổi trẻ thiếu kinh nghiệm. Điều này không
có nghĩa là chúng ta không tìm thấy những mẫu gương sống nơi người trẻ. Chúng
ta thấy có nhiều vị thánh trẻ trong Giáo Hội. Sự thánh thiện và đời sống gương
mẫu không hệ tại tuổi tác, nhưng hệ tại tương quan với Chúa. Đây là điều Thánh
Phaolô khuyến khích Timôthê trong bài đọc 1 hôm nay: “Anh thân mến, chớ gì đừng có ai coi thường anh
vì anh còn trẻ. Trái lại, anh hãy nên gương mẫu cho các tín hữu về lời ăn tiếng
nói, về cách cư xử, về đức ái, đức tin và lòng trong sạch” (1 Tm 4:12). Thánh Phaolô khuyến khích
Timôthê nêu gương cho người khác, vì Chúa ban cho Timôthê “đặc sủng” hướng dẫn
cộng đoàn qua “việc đặt tay của hàng kỳ mục” (1 Tm 4:14). Là người lãnh đạo
cộng đoàn, ngoài việc nêu gương sáng, Timôthê phải (1) chuyên cần đọc Sách Thánh,
(2) thận trọng trong cách ăn nết ở và kiên trì trong lời giảng dạy (x. 1 Tm
13-16). Việc giảng dạy không chỉ qua lời nói, nhưng nhất là đời sống gương mẫu
có khả năng “cứu được chính mình và cứu được những người nghe giảng dạy.” Đây
là điều chúng ta được mời gọi. Mỗi người chúng ta là một thầy dạy về đường nên
thánh cho anh chị em của mình. Chúng ta dạy không chỉ bằng lời nói dịu hiền, dễ
nghe, nhưng còn qua đời sống gương mẫu của mình.
Một lần nữa, Chúng ta lại thấy Thánh Luca dùng nghệ thuật “dùng người” để chuyển tải
sứ điệp Tin Mừng. Ngày hôm qua, chúng ta nghe về một người nam, đó là Gioan Tẩy
Giả [như ngày thứ 2 – viên đại đội trưởng] và hôm nay bài Tin Mừng trình thuật
cho chúng ta câu chuyện một người phụ nữ tội lỗi đáp lại món quà tha thứ của
Chúa Giêsu [như ngày thứ 3 – bà goá thành Nain]. Câu chuyện được trình thuật
hôm nay là một bản công bố cách hùng hồn về tình yêu của Thiên Chúa dành cho
tội nhân, là sự mô tả tuyệt vời về sự quảng đại của những tội nhân được Thiên
Chúa tha thứ, và là một bản trình thuật đúng mức về sự tự công chính của những
người đạo đức giả.
Bài Tin Mừng bắt đầu với
việc giới thiệu “một người thuộc nhóm Pharisêu” (Lc 7:36). Đây là đại diện cho
các Kitô hữu người Do Thái, là những người giữ chặt chẽ những tiêu chuẩn cứng
ngắc để trở nên thành viên của cộng đoàn Thánh Luca và cho việc tham dự vào các
bữa ăn của họ. Chúng ta thấy điều này được phản ánh qua thái độ khó chịu và lên
án khi người phụ nữ tội lỗi xuất hiện. Thái độ này cũng thách đố chúng ta về
lối sống loại trừ và xem mình tốt và thánh thiện hơn người khác. Nếu có một ai
đó chúng ta nghĩ là không thánh
thiện đến với bàn tiệc của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ phản ứng thế nào? Chúng ta
hãy để Chúa Giêsu hướng dẫn chúng ta.
Trong khi Chúa Giêsu đang
dùng bữa, thì bỗng dưng có một người “phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành”
(Lc 7:37). Chúng ta cần lưu ý rằng, người phụ nữ được trình bày trong bài Tin
Mừng là “người tội lỗi,” chứ chúng ta không có chứng cớ bà là một người gái
điếm như nhiều người thường nghĩ [và nói]. Từ “tội lỗi” được dùng ở đây mang
nghĩa chung. Nó được dùng để nói lên thân phận con người cả nam lẫn nữ đều là
tội nhân, chứ không nói đến tội liên quan đến vấn đề tình dục. Khi nghe về Chúa
Giêsu, người phụ nữ “liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm” (Lc 7:37)
đến để “đổ lên” chân Ngài. Khác với câu chuyện về bà goá, đó là Chúa Giêsu chạm
đến “người chết” để làm cho sống lại, trong câu chuyện này, người phụ nữ “chạm
vào” Chúa Giêsu và được chữa lành, được tha thứ, được làm cho sống lại [đời
sống thiêng liêng, chứ không phải đời sống thể lý như người con của bà goá].
Bên cạnh đó, chúng ta cần lưu ý đến ba yếu tố nơi người phụ nữ, đó là “sự sám
hối” được diễn tả qua nước mắt, “sự quảng đại” diễn tả qua bình bạch ngọc đựng
dầu thơm, và “tình yêu rất con người” qua nụ hôn trên chân Chúa Giêsu.
Như chúng ta đã biết,
Chúa Giêsu được trình bày như một vị ngôn sứ, một trong những đề tài trong Tin
Mừng Thánh Luca. Chúng ta cũng thấy điều này nơi phản ứng của ông Pharisêu: “Thấy vậy, ông Pharisêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: “Nếu quả thật
ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là
thứ người nào: một người tội lỗi!” (Lc 7:39). Chúa Giêsu được gọi là ngôn sứ sau khi
cho người con trai bà goá sống lại. Trong câu chuyện hôm nay, Ngài cũng được
gọi là ngôn sứ, nhưng là vị ngôn sứ có quyền tha thứ cho những người tội lỗi.
Chi tiết này cho thấy, cái chết thiêng liêng nguy hiểm hơn cái chết thể lý. Vì
vậy, việc chữa lành cũng khó hơn, vì nó liên quan đến việc tha thứ. Có nhiều
người đời sống thể lý rất mạnh khoẻ, nhưng đời sống thiêng liêng thì “bệnh tật”
hay đã chết. Đứng trước sự “phàn nàn” của Simôn, Chúa Giêsu sử dụng nghệ thuật
đối đáp mang tính “triết học” [của Socrates] để rút ra câu trả lời từ Simôn cho
việc Ngài để cho người tội lỗi chạm đến Ngài. Chúng ta viết lại cuộc đối thoại
này (x. Lc 7:41-47).
Chúa Giêsu: “Này ông Simôn, tôi có điều muốn nói với ông!”
Ông Simôn: “Dạ, xin Thầy cứ nói.”
Chúa Giêsu: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ
năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ
nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?”
Ông Simôn: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều
hơn.”
Chúa Giêsu: “Ông xét đúng lắm.”
[Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với
ông Simôn]
Chúa Giêsu: “Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà
ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới
ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn
chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ôliu, ông cũng
không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì
thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là
chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít.”
Trong cuộc đối thoại này,
chúng ta thấy Chúa Giêsu dẫn Simôn vào trong mầu nhiệm tình yêu và tha thứ của
Thiên Chúa. Ngài sử dụng dụ ngôn về hai con nợ để nói cho Simôn biết ông cũng
là một con nợ, có thể không nhiều như người phụ nữ, nhưng ông không cảm nghiệm
được sự tha thứ nhiều nên không yêu mến nhiều. Chúng ta thấy điều này trong lời
giải thích mang tính so sánh giữa Simôn và người phụ nữ. Mặc dầu Simôn không
mắc lỗi gì trong việc đón tiếp Chúa Giêsu. Điều thiếu sót của Simôn là ông đã
không dành cho Chúa Giêsu bất kỳ một hành động hiếu khách đặc biệt nào. Nói
cách khác, đối với ông Chúa Giêsu không có gì đặc biệt! Ngài chỉ được xem là
một khách mời bình thường như bao nhiêu khách mời khác. Hành động quảng đại của
người phụ nữ hoàn toàn trái ngược với thái độ “keo kiệt” của chủ nhà. Người phụ
nữ xem Chúa Giêsu là người đặc biệt nhất trong cuộc đời của chị, trong bàn tiệc
mà Ngài dọn cho chị! Điều này được phản chiếu qua hình ảnh “tội của chị rất
nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai [anh Simôn]
được tha ít thì yêu mến ít [vì anh tự cho mình là người công chính]. Chi tiết
này làm chúng ta tự hỏi: Vị trí của Chúa Giêsu trong cuộc đời chúng ta như thế
nào? Ngài có ở
vị trí đặc biệt nhất
không?
Bài Tin Mừng kết thúc với
thái độ “ngạc nhiên” của những người đồng bàn và họ tự hỏi: “Ông này là ai mà
lại tha được tội?” (Lc 7:49). Câu hỏi này đưa thính giả vượt qua việc xem Chúa
Giêsu là một ngôn sứ, nhưng ẩn chứa trong đó một sự khẳng định Ngài là Chúa,
Đấng có quyền tha tội. Đứng trước sự “tò mò” này, Chúa Giêsu “đổi đề tài” bằng
cách “nói với
người phụ nữ: ‘Lòng tin
của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an’” (Lc 7:50). Trong những lời này, Chúa Giêsu chỉ ra
cho chúng ta thấy có một sự liên kết chặt chẽ giữa tha thứ, đức tin và sự bình
an.