Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 27 Thường niên năm C
Đức
tin đi đôi với sự khiêm hạ
Lm.
Gioan B. Trần Văn Hào, SDB
Chúng ta vẫn được mệnh
danh là tín hữu, tức là những người có đức tin. Với đức tin, nhiều người đã quảng
đại từ bỏ tất cả, bỏ gia đình, bỏ quê hương xứ sở, bỏ bạn bè thân quen.. để lên
đường dấn thân truyền giáo. Vì đức tin, biết bao anh hùng tử đạo đã can đảm chấp
nhận cái chết để bày tỏ sự gắn kết với Đấng mà họ tín thác. Cộng đoàn quy tụ
trong ngôi giáo đường để tham dự Thánh lễ mỗi ngày Chúa nhật cũng để diễn bày đức
tin qua việc cùng nhau hướng về Chúa và cầu nguyện. Đức tin là ngọn đèn soi dẫn
hầu giúp khám phá những chân lý được mặc khải mà đầu óc con người không thể lý
giải. Các bài đọc lời Chúa hôm nay, đặc biệt bài Tin mừng nhấn mạnh về đức tin.
Chúa nói: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây
dâu này: hãy bật rễ lên, xuống dưới biển mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em.” Đức
tin là chìa khóa then chốt để chúng ta có thể mở toang mọi cánh cửa, đi sâu vào
thế giới của mầu nhiệm. Vậy đức tin là gì, và chúng ta cần hiển thị đức tin như
thế nào?
Đức
tin là gì?
Để trả lời câu hỏi này,
Giáo hội dạy : “Tin là gắn kết trọn vẹn con người chúng ta với Thiên Chúa, đấng
đã mặc khải chính mình. Đức tin được diễn bày qua 2 chiều kích: Tin vào Thiên
Chúa và tin vào Chân lý đã được Thiên Chúa mặc khải (Sách Giáo lý Công giáo số 176,177). Đức tin là một trong ba nhân đức
đối thần và là nền tảng của đời sống Kitô hữu. Đó là một ơn nhưng không, do Thiên
Chúa trao ban và con người cần mở lòng ra để đón nhận.
Trong bài Tin mừng hôm
nay, các tông đồ xin Chúa tăng thêm lòng tin cho họ. Chúa Giêsu dần dần đưa dẫn
các học trò đến chân trời đức tin. Chân trời này không phải chỉ tóm gọn trong một
định thức giản đơn hay một bài học đơn sơ, nhưng cần phải trải nghiệm dần để tiến sâu vào
trong suốt cả cuộc đời. Chúa nói với Nicôđêmô : “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi
đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài sẽ không phải chết, nhưng được sống
đời đời” (Ga 3,16).Vì vậy, đức tin là điều kiện duy nhất để được cứu độ.
Nhiều người vô thần hiện
nay cho rằng tôn giáo chỉ là những gì mê tín. Karl Marx đã từng tuyên bố: “Tôn
giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân.” Quan niệm này ngày nay đã trở nên quá lạc
điệu. Con người ngày càng nhận thức nhu cầu tâm linh một cách sâu xa.
Ông Eyrien, một nhà xã
hội học đã thống kê và cho thấy rằng trong số 432 nhà bác học có tên tuổi khắp nơi
trên thế giới vào thế kỷ 19 và vào đầu thế kỷ 20, chỉ có 16 người tự nhận là vô
thần, 34 người không có lập trường rõ ràng, còn lại 367 vị vẫn tin có Thiên
Chúa. Như vậy, có đến 92% các nhà khoa học nhìn nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa,
tiêu biểu như Ampère, Copernic, Volte, Newton, Lavoisier, Pasteur, Pascal, J.J.
Rousseau…Giáo hội vẫn khẳng định rằng đức tin không đối kháng với khoa học,
nhưng ngược lại càng tìm hiểu khoa học, con người lại càng khám phá sâu hơn về
Thiên Chúa.
Ông D’Alembert là một
bác học vô thần đã mất niềm tin hoàn toàn. Nhưng trên giường hấp hối, ông xin gặp
một linh mục để trở về với Chúa và tìm lại đức tin cho mình. Triết gia Shaupenhauer
thế kỷ 19, một triết gia vô thần người Đức, suốt cuộc đời đã nguyền rủa tôn
giáo và chọc giận Thiên Chúa. Lúc gần chết, ông đau đớn thốt lên: “Chúa ơi, sao
tôi khổ thế này”. Vị bác sĩ săn sóc ông ta ngạc nhiên và hỏi: “Ông cũng còn tin
Thiên Chúa nữa hay sao?” Ông trả lời : “Vào lúc này khi đối diện trước cái chết,
cái triết lý vô thần của tôi đã hoàn toàn trở nên vô tích sự, chẳng giúp gì cho
tôi được cả.” Ông Voltaire cũng vậy, ông đã chối bỏ Thiên Chúa và ra sức tấn
công Giáo hội. Trên giường bệnh, ông gào thét lên: “Kìa, tôi nhìn thấy bàn tay
của Thiên Chúa đang giơ ra để trừng phạt tôi, và cửa hỏa ngục đang mở toang để
đón tôi vào, vì tôi đã chống lại Thiên Chúa, chống lại Giáo hội của Ngài”. Một
người bạn đứng đó chứng kiến và đã kể lại : “Nếu ma quỷ có chết được, nó cũng
không phải trải qua cái chết ghê sợ như cái chết của Voltaire.”
Ngược lại, chúng ta thấy
rất nhiều khoa học gia tài ba vẫn thể hiện niềm tin vào Thiên Chúa một cách sâu
xa. Ông Louis Amstrong cùng 2 người bạn Mỹ là những người đầu tiên đặt chân lên
mặt trăng vào năm 1969. Khi vừa đến nơi, việc đầu tiên họ thực hiện là quỳ gối
xuống, khiêm tốn cầu nguyện với Chúa và tạ ơn Ngài.
Như vậy, đức tin không
đối nghịch với khoa học. Có những điều khoa học không giải thích được, nhưng chỉ
với đức tin, con người mới có thể cảm thấu. Chúng ta vẫn gọi đó là những phép lạ,
là những sự việc siêu thường xảy ra do sự can thiệp nhiệm mầu của Thiên Chúa.
Tương tự, Chúa nói hôm nay: “Nếu anh em có lòng tin bằng hạt cải, anh em bảo
cây dâu này dời xuống biển, nó sẽ vâng lời anh em”. Nói cách khác, với đức tin,
phép lạ sẽ xảy ra.
Sống
và vun trồng đức tin
Thánh Giacôbê đã dạy :
“Đức tin không có việc làm là đức tin chết.” Đức Hồng Y Etchegarey khi đến thăm
Việt Nam vào năm 1989 đã so sánh Giáo hội Việt Nam với Giáo hội Pháp. Ngài nói,
ở Pháp 90% dân chúng có đạo nhưng chỉ 10% trong số ấy thực hành đức tin, cụ thể
là đến nhà thờ ít nhất mỗi tuần một lần. Còn tại Việt Nam, số người Công giáo
chưa tới 10%, nhưng trong số này có đến 90% vẫn thực hành đức tin đều đặn. Song
Ngài tiên báo, Giáo hội Việt Nam trong vòng 30 năm nữa cũng sẽ giống Giáo hội
Pháp bây giờ. Khi con người bắt đầu lao vào cuộc sống duy vật và chỉ lo hưởng
thụ, đức tin của họ sẽ dần dần bị sói mòn. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa dạy
các môn đệ cách thức vun trồng đức tin, đó là phải sống thật khiêm hạ, luôn ý
thức mình chỉ là tôi tớ của Thiên Chúa. Chúa nói : “Khi anh em làm xong bổn phận,
thì hãy thưa lên : “Chúng tôi chỉ là đầy tớ vô dụng, chúng tôi chỉ làm những việc
bổn phận đấy thôi.”
Kết
luận
Chúng ta nhìn vào Đức
Maria như là khuôn mẫu và cũng là Thầy dạy đức tin. Mẹ đã khiêm tốn, coi mình
như một tôi tớ, luôn để Thiên Chúa hướng dẫn đời mình và sẵn sàng thực thi những
gì Chúa muốn. “Phúc cho bà là kẻ đã tin.” Xin Mẹ dạy chúng ta biết thể hiện và
vun trồng đức tin giống như Mẹ năm xưa.