Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 2 Mùa Chay năm A
SỐNG ĐỜI SỐNG MỚI TRONG ĐỨC KITÔ
(St
12:1-4a; 2
Tm 1:8b-10; Mt
17:1-9)
Lm. Antôn
Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Sau khi trình bày cho chúng ta về sự
kiện Chúa Giêsu đối diện với những cám dỗ và chiến thắng trong Chúa Nhật I –
Mùa Chay, lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng cuộc
biến hình của Chúa Giêsu. Điều này chỉ ra cho chúng ta mục đích của mùa chay,
đó là một hành trình đi từ sự chết đến vinh quang, một cuộc biến đổi hoàn toàn
để trở thành con người mới trong Đức Kitô. Để đạt được điều đó, chúng ta hãy để
lời Chúa hướng dẫn.
Trong bài đọc 1, tác giả sách Sáng Thế
trình bày cho chúng ta ‘ơn gọi’ của Ápram. Ông đã được Đức Chúa chọn để làm cha
của một dân tộc được tuyển chọn mà qua đó Ngài sẽ thực hiện lời hứa cứu độ của
Ngài. Cũng giống như bất kỳ ơn gọi nào trong Kinh Thánh khi được Đức Chúa gọi,
Ápram cũng phải bỏ lối sống cũ để đi theo hành trình mà Đức Chúa đã vạch ra: “Hồi ấy, Đức
Chúa phán với ông Ápram: ‘Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới
đất Ta sẽ chỉ cho ngươi’” (St 12:1). Bên cạnh đó, Đức Chúa sẽ làm cho ông trở nên vĩ đại: “Ta sẽ làm
cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi
được lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối phúc lành” (St 12:2). Không những
Đức Chúa chúc lành cho chính Ápram, nhưng còn chúc phúc cho những người làm tốt
cho Ápram và qua ông mọi dân tộc sẽ được chúc phúc: “Ta sẽ chúc
phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhục mạ
ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 14:3). Chi
tiết này mời gọi chúng ta nhìn lại cuộc sống của mình. Mỗi người chúng ta được
mời gọi để trở nên lời chúc phúc cho người khác. Chúng ta phải chân nhận rằng,
nhiều lần chúng ta đã trở nên gánh nặng hoặc ‘lời chúc dữ’ cho
người khác. Chúng ta cần phải học ở Ápram. Khi nghe tiếng Chúa mời gọi từ bỏ
‘quê cha đất tổ,’ nơi mang lại sự an toàn thì ông “Ápram ra đi,
như Đức Chúa đã phán với ông” (St 12:4a). Hãy đặt trọn niềm tin vào Chúa và bước theo sự hướng dẫn
của Ngài, hầu trở nên nguồn chúc phúc cho nhiều người.
Về phần mình, Thánh Phaolô trong bài
đọc 2 đã khích lệ Timôthê trong việc loan báo Tin Mừng. Mục đích của một cuộc
đời biến đổi là hoàn toàn sống theo Tin Mừng và cho Tin Mừng. Tuy nhiên, Thánh
Phaolô khuyến cáo Timôthê rằng những việc họ làm trong việc loan báo Tin Mừng
không phải là công trạng của họ, mà tất cả là do kế hoạch và ân sủng của Thiên
Chúa được biểu lộ nơi Đức Giêsu Kitô: “Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh
của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch
và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong
Đức Kitô Giêsu, nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ
chúng ta là Đức Kitô Giêsu đã xuất hiện. Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết,
và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử” (2 Tim 9-10). Trong những lời
này, chúng ta thấy Thánh Phaolô hướng Timôthê về trung tâm điểm của Tin Mừng,
đó là Đức Giêsu Kitô. Nơi Ngài, chúng ta được hưởng đời sống mới trong ân sủng,
đời sống trường sinh bất tử. Theo Thánh Phaolô, để sống đời sống mới, đời sống
biến đổi, chúng ta cần phải nhìn lên Chúa Giêsu như là gương mẫu của mình.
Chúa Nhật II Mùa Chay [năm A] trình bày
cho chúng ta về sự kiện Chúa Giêsu biến hình. Đây là một biến cố quan trọng nên
được cả ba tác giả sách Tin Mừng Nhất Lãm thuật lại (x. Mc 9:2-13; Lc 9:28-36).
Sự kiện xảy ra sau “sáu ngày.” Điều này nhắc lại cho chúng ta sự kiện xảy ra
được trình thuật trong sách Xuất Hành (Xh 24:13-16), Đức Chúa đã mặc khải chính
mình cho Môsê sau sáu ngày. Việc Chúa Giêsu biến hình sau sáu ngày trước ba môn
đệ cũng chính là một mặc khải, một cuộc hiển linh của Ngài nhằm cho các môn đệ
biết chân tính thật của Ngài: “Khi ấy, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan
là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một
ngọn núi cao” (Mt 17:1). Ba môn đệ xuất hiện trong sự kiện này cũng sẽ xuất hiện
trong vườn Cây Dầu. Nói cách cụ thể hơn, ba môn đệ này bên Chúa Giêsu trong
giây phút biến hình vinh hiển và trong giây phút buồn sầu đau khổ. Chi tiết này
mời gọi chúng ta nhìn lại hành trình theo Chúa của mình. Nhiều lần chúng ta chỉ
muốn theo Chúa trong lúc vinh quang, chứ không muốn theo Ngài khi gặp gian nan
thử thách. Chúng ta được mời gọi ở bên Chúa trong mọi lúc: lúc vui cũng như lúc
buồn, lúc thành công cũng như khi thất bại. Nói cách khác, dù cuộc sống có thế
nào, chúng ta cũng hoàn toàn đặt trọn con tim mình vào Chúa. Điểm thứ hai chúng
ta cần lưu ý trong những lời trên là hình ảnh “núi cao.” Trong Kinh Thánh, núi
là biểu tượng của sự mặc khải. Trong bối cảnh của Tin Mừng, “núi cao” mà Chúa
Giêsu đem các môn đệ lên được xem là “Sinai ở Galilê.” Chính khi “đi lên cao,”
chúng ta sẽ được chứng kiến vinh quang Chúa. Điều này ám chỉ rằng: Chỉ khi
chúng ta tiến cao và xa trong đời sống tương quan mật thiết với Chúa, chỉ khi
chúng ta đi lên cao trong đời sống nhân đức, chỉ khi chúng ta ngước mắt nhìn về
trời cao trong hành trình dương thế của mình, chúng ta mới thấy được vinh quang
Thiên Chúa tỏ hiện trong từng ngày sống của chúng ta và như thế cuộc sống chúng
ta sẽ được biến đổi.
Một trong những hình ảnh quan trọng
trong sự kiện Chúa Giêsu biến hình là ánh sáng: “Rồi Người
biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và
y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17:2). Những lời này trình bày cho chúng ta biết việc Chúa Giêsu biến
đổi trở thành ánh sáng chiếu soi vào chốn tối tăm đang bao trùm trên các môn đệ
sau khi Ngài tiên báo lần thứ nhất về cuộc thương khó và sự phục sinh của Ngài
(x. Mt 16:21-28). Thật vậy, Chúa Giêsu trở thành ánh sáng để mặc khải cho các
môn đệ biết Ngài thật sự là ai. Ngài là Đấng mà Sách Luật nói đến và các Ngôn
Sứ tiên báo được đại diện qua hai hình ảnh Môsê và Êlia: “Và bỗng các
ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người” (Mt 17:3). Theo truyền thống
của người Do Thái, mọi sự để được chứng minh là chân thật, cần phải có hai nhân
chứng. Chân tính của Chúa Giêsu là ai được Môsê và Êlia làm chứng cho
các môn đệ.
Đứng trước đặc ân này, Phêrô đại diện
cho hai môn đệ kia sung sướng kêu lên: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là
hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông
Môsê, và một cho ông Êlia” (Mt 17:4). Những lời của Phêrô đưa chúng ta vào bối cảnh
phụng vụ của sự kiện, đó là hình ảnh lều. Theo các học giả Kinh Thánh, chi tiết
này cho thấy sự kiện Chúa Giêsu biến hình xảy ra trong dịp lễ Lều của người Do
Thái (x. Lv 23:42; Neh 8:14-18). Chính bối cảnh phụng vụ này mang lại ý nghĩa
cho sự kiện vì nó gợi lại cho các môn đệ hành trình của dân Israel trong sa mạc
khi Đức Chúa đồng hành với họ qua Hòm Bia được đặt trong lều ở giữa dân và vinh
quang của Thiên Chúa bao phủ lều thánh. Chúng ta nhận ra điều này qua hình ảnh
của đám mây bao phủ các môn đệ: “Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ
các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài
lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17:5). Theo
truyền thống Kinh Thánh hình ảnh đám mây là biểu tượng của sự hiện diện của Thiên Chúa, là Shekina, là đám mây của sự “Không Biết”
mà trong đó chúng ta được gặp và lắng nghe Thiên Chúa. Trong lời chứng
của Chúa Cha, Chúa Giêsu là “Con yêu dấu.” Trong hình ảnh này, Chúa Giêsu được
thánh Mátthêu xem như là Con Thiên Chúa, là Người Tôi Trung đau khổ và là vị
Ngôn Sứ như Môsê. Trong chi tiết này, Thánh Mátthêu chỉ ra cho chúng ta rằng
Chúa Giêsu là con yêu dấu của Chúa Cha không chỉ trong giây phút vinh quang,
nhưng còn trong giây phút đau khổ như một người tôi trung. Đây chính là lời mời
gọi cho chúng ta, những người được trở nên con cái của Thiên Chúa qua bí tích
rửa tội. Nhưng chúng ta đã sống như những người con yêu dấu của Thiên Chúa
chưa? Là những người con yêu dấu của Thiên Chúa, chúng ta phải luôn trung thành
với Ngài trong mọi giây phút của cuộc sống: dù là vinh qua hay đau khổ.