Suy niệm Lời Chúa: Thứ Sáu tuần 27 Thường niên năm B
SỐNG HIỆP NHẤT VỚI NHAU VÀ VỚI CHÚA
(Gl 3:7-14; Lc 11:15-26)
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
Trong bài đọc 1 hôm nay, Thánh Phaolô dùng hình ảnh
ông Ápraham để dạy các tín hữu Galát về vai trò của đức tin. Điều đầu tiên
thánh nhân khẳng định là “những ai dựa vào đức tin, những người
ấy là con cái ông Ápraham” (Gl 3:7). Điều
này ám chỉ việc nhữnng người tin sẽ được thừa hưởng lời hứa dành cho
Ápraham và con cháu ông đến muôn đời, đó là trở nên dân riêng của Thiên Chúa.
Chính qua đức tin của Ápraham mà “muôn dân sẽ được
chúc phúc. Như vậy, những kẻ dựa vào đức tin thì được chúc phúc làm một
với ông Ápraham, người có đức tin” (Gl 3:8-9). Chúng ta cũng
là những người tin nên chúng ta cũng được thừa hưởng mối phúc Thiên Chúa dành
cho Ápraham và con cháu ông. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng Thánh Phaolô
không đặt đức tin đối kháng với Lề Luật, mà thánh nhân muốn đức tin trở nên nền
tảng và động lực cho những ai tuân giữ Lề Luật, chứ không chỉ tuân giữ Lề Luật
mà không có đức tin. Một cách cụ thể hơn, thánh nhân muốn các tín hữu Galát
nhận ra rằng Chính Chúa Giêsu là Đấng chuộc chúng ta khỏi tội lỗi [cứu độ chúng
ta], chứ không phải Lề Luật để chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa hứa: “Đức Kitô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì
chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa
thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ! Như thế là để nhờ Đức Giêsu Kitô, các dân
ngoại cũng được hưởng phúc lành dành cho ông Ápraham, và để nhờ đức tin, chúng
ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần Khí” (Gl 3:13-14). Những lời này
nhắc nhở chúng ta mỗi khi nhìn lên thập giá, chúng ta ý thức rằng Đấng chịu
treo trên thập giá đã mang lấy sự nguyền rủa cho chúng ta và đã mang lại cho
chúng ta phúc lành. Vì vậy, chúng ta phải sống thế nào để tình yêu của Đấng bị
treo trên thập giá không trở nên vô hiệu trong cuộc đời chúng ta.
Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong bối cảnh cuộc tranh luận
về ý nghĩa cuộc hành trình của Chúa Giêsu (Lc 11:14-36). Thánh Luca cho
chúng ta thấy kỹ thuật hành văn của ngài qua việc liên kết các bản văn không
liên quan thành một thể thống nhất trong trình thuật này, nhất là trong các câu
24-26 và 33-36, với mục đích làm sáng tỏ về nguồn gốc quyền năng Ngài có. Kỹ
thuật này được chứng tỏ trong các cặp tương xứng sau: A (11:15), B (11:16), A’
(11:17-28), B’ (11:19-26). Đây là kiểu mẫu mà trong đó câu 23-28, với hai đề tài đáp lại quyền
lực của chữa lành và lời của Ngài, tạo thành một cầu nối giữa A’ và B’. Một sự
sáng tạo khác của Thánh Luca trong phần này là Ngài thay đổi lời dạy của thánh
nhân về Kitô học và ơn gọi của người môn đệ. Đây là những chi tiết chúng ta cần
lưu ý trước khi phân tích bài Tin Mừng.
Bài Tin Mừng bắt đầu với sự kiện Chúa Giêsu “trừ một tên
quỷ.” Chứng kiến điều này, nhiều người đã thốt lên: “Ông ấy dựa thế quỷ vương Bêendêbun mà trừ quỷ” (Lc 11:15). Chi tiết này cho
thấy lý do của cuộc tranh luận không phải là việc Chúa Giêsu trừ quỷ, nhưng là
nguồn gốc của quyền năng mà qua đó Chúa Giêsu trừ quỷ và nguồn gốc quyền năng của những người theo
Ngài. Họ cho rằng, nguồn gốc quyền năng của Chúa Giêsu đến từ quỷ vương
Bêendêbun. Từ “Bêendêbun” có thể có nghĩa là “chúa của trời.” Họ đã gán cho
“việc tốt” Chúa Giêsu làm với cái mác của “quỷ vương” – kẻ luôn làm điều xấu và
gây chia rẽ. Chi tiết này khuyến cáo chúng ta về cách thức chúng ta nhìn và
phản ứng lại những việc tốt anh chị em chúng ta làm. Nhiều khi chúng ta cũng
cắt nghĩa sai hoặc gán những động lực không tốt cho những công việc tốt của anh
chị em mình. Đây là cách thức của những người không thuộc về Thiên Chúa. Nếu
thuộc về Thiên Chúa, họ sẽ không cắt nghĩa sai những việc tốt của anh chị em
mình.
Câu trả lời cho vấn nạn về
nguồn gốc quyền năng của Chúa Giêsu bị chia cắt bởi một “kẻ khác lại muốn thử Người, nên đã đòi Người một dấu
lạ từ trời” (Lc 11:16). Trong câu này, chúng ta thấy Thánh
Luca tổng quát hoá sự chống đối của những người tìm kiếm một vài dấu lạ. Ở đây,
Thánh Luca giới thiệu vấn nạn B và câu trả lời sẽ được tìm thấy trong câu
29-36. Chúa Giêsu biết được tư tưởng của những người cho rằng nguồn gốc quyền
năng của Ngài đến từ Bêendêbun và những người đòi một dấu lạ từ trời (x. Lc
11:17). Qua chi tiết này, Thánh Luca muốn nhấn mạnh đến việc Chúa Giêsu biết
trước mọi sự. Vì “biết tư tưởng của họ,” Chúa Giêsu sử dụng những hình ảnh thật
cụ thể và quen thuộc với họ để giải thích về nguồn gốc quyền năng mà qua đó
Ngài trừ quỷ. Ngài chỉ ra sự vô lý và thiển cận trong tư tưởng của họ: “Nước nào tự chia rẽ thì sẽ điêu tàn, nhà nọ đổ
xuống nhà kia. Nếu Xatan cũng tự chia rẽ chống lại chính mình, thì nước nó
tồn tại sao được?” (Lc 11:17-18). Theo lẽ thông thường, không có nước nào, gia đình nào,
cộng đoàn nào đứng vững nếu các thành viên chia rẽ và chống đối nhau. Điều này
càng không thể xảy ra với quyền lực sự dữ. Sau khi chỉ ra cái vô lý trong lối
suy nghĩ của họ, Chúa Giêsu chất vấn họ về nguồn gốc quyền năng của Ngài: “Nếu tôi dựa thế Bêendêbun mà trừ quỷ, thì con cái
các ông dựa thế ai mà trừ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông. Còn nếu
tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến
giữa các ông” (Lc 11:19-20). Chúa Giêsu cho biết Ngài sử dụng
“ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ.” Điều này ám chỉ về sự kiện trong Sách Xuất
Hành (8:15): Những gì Thiên Chúa đã thực hiện trong quá khứ để giải cứu dân
Ngài khỏi sự đàn áp của ách nô lệ sẽ được tiếp tục nơi Đức Kitô. Nơi sứ vụ của
Ngài, Triều Đại Thiên Chúa đã được tỏ lộ. Chi tiết này cho thấy căn tính thật
của Chúa Giêsu: Ngài là Đấng làm cho “danh Chúa Cha được tôn vinh, và Triều Đại
Ngài hiển trị.” Đây cũng chính là sứ vụ của mỗi người môn đệ Chúa Giêsu. Chúng
ta được mời gọi qua chính cuộc sống của mình làm cho danh Chúa được tôn vinh và
Triều Đại yêu thương, hiệp nhất và bình an của Ngài được thiết lập.
Thánh Luca tiếp tục đào sâu
chân tính của Chúa Giêsu qua việc sử dụng những biểu tượng về sự giàu sang như
lâu đài, của cải, sự tin tưởng vào sự an toàn của vật chất để mô tả một người
mạnh mẽ (x. Lc 3:21-22). Nhưng Chúa Giêsu là Đấng mạnh hơn những người cậy dựa
vào sức mạnh của vật chất (x. Lc 3:16). Ngài là Đấng sẽ đánh bại các quyền lực
của sự dữ. Ngài sẽ ban quyền lực này cho những ai theo Ngài, những người đi với
Ngài và cùng thu góp với Ngài: “Ai không đi
với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán” (Lc 11:23). Qua những lời này, Thánh Luca nói về đề tài ơn gọi của người môn đệ. Khi sống trong môi trường chống
đối, các môn đệ Chúa Giêsu được an ủi bởi quyền năng của Chúa Giêsu trên các
mãnh lực sự dữ và họ được mời gọi để tiếp tục trung thành với Ngài và lối sống
của Ngài. Nói cách cụ thể, họ được mời gọi đi theo con đường yêu thương Ngài đã
đi và trở thành những nhân tố của sự hiệp nhất. Chúng ta đang đi trên con đường
yêu thương và đang là nhân tố của hiệp nhất trong môi trường chúng ta đang sống
không?
Thánh Luca kết thúc cuộc tranh
luận về nguồn gốc quyền lực của Chúa Giêsu với khuyến cáo sau: “Khi thần ô uế xuất khỏi một người, thì nó đi rảo
qua những nơi khô cháy, tìm chốn nghỉ ngơi. Mà vì tìm không ra, nó nói: ‘Ta sẽ
trở về nhà ta, nơi ta đã bỏ ra đi.’ Khi đến nơi, nó thấy nhà được quét
tước, dọn dẹp hẳn hoi. Nó liền đi kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó, và
chúng vào ở đó. Rốt cuộc tình trạng của người ấy lại còn tệ hơn trước” (Lc 11:24-26). Trong những lời này, Thánh Luca muốn khuyến cáo các thành
viên trong cộng đoàn mình rằng: Sự chiến thắng của Thiên Chúa trên quyền lực sự dữ nơi Đức Kitô không
lấy đi khỏi người môn đệ nhu cầu phải đáp lại lời giảng dạy của Chúa Giêsu.
Nghe và tuân giữ lời Chúa là sự trợ giúp cần thiết mà người môn đệ rất cần để tránh rơi vào tình trạng
trở về với lối sống tội lỗi mà mình đã từ bỏ.